Hoa Nhà Người Ta

Hoa Nhà Người Ta
tặng . . . ai biết!

dậu chưa đổ, bìm đã leo,
xem chừng khiếm nhã mà teo téo tèo!

cỏ dại bất luận sang nghèo,
người dại bất luận hút heo vẫn nồng.

nhà người ta, một đóa hồng,
nhà ta đám cỏ lông nhông trửa đời.

bởi hoa trăng gió nửa vời,
để lông nhông đứng rối bời như tơ.

rồi hoa lặng nín như tờ,
lông nhông tiếp bước đến bờ lông nhông.

một mai hoa cũng hết hồng,
lông nhông thì vẫn lông nhông khắp trời!

Thiên Thu Bình
Vũng Tàu, 16/08/2015

Advertisements

Trà Sớm

Trà Sớm

Trà pha trong sớm vội vàng,
Khi hương nguyệt quế nhẹ nhàng đong đưa.

Dở trời mắc phải cơn mưa,
Dở người vướng phải chuyện chưa vừa lòng.

Chầu mô thế cục bình xong!
Định ngày bên nớ, thong dong chén trà!

Dừ đây trong cục chính tà,
Biết còn tranh đấu, biết là sân si!

Thiên Thu Bình
Vũng Tàu, ngày mưa 30/07/2015

Bữa Cơm Nhút

tặng dì Phan Lan Hoa
tặng bác Nguyễn Lâm Cẩn

đêm qua uống rượu, nghe thơ,
thưởng văn hóa Nghệ nơi bờ biển xa.

vẫn là cơm nhút, canh gà
góp nên bản sắc quê nhà Thanh Chương.

tình cờ gặp bác đồng hương
mà nhanh bắt nhịp, thân thương chuyện trò.

dừ chẳng lo việc đói no,
văn hóa mới chuyện cam go của thời!

bản sắc ngày dần rụng rơi,
mấy ai nhặt lại, để đời mai sau?

rồi đây cuộc sống phai nhàu,
mấy ai vẽ lại những màu thắm tươi?

Thiên Thu Bình
Vũng Tàu, 31/10/2013

“CÁ HOÁ RỒNG” VÀ “CÁ GỖ”

Từ trước tới nay, hình tượng “cá gỗ” gắn với ông đồ xứ Nghệ. Nhưng cũng ở xứ Nghệ từ lâu còn lưu truyền một hình tượng nữa, thậm chí có nhiều sự tích, giai thoại khá nổi tiếng là sự tích cá chép vượt Vũ Môn để hóa rồng (gọi tắt là cá chép hóa rồng).

 

ca_go2

 

Nội dung ý nghĩa của sự tích này cũng nói lên đức tính khổ luyện, vượt khó trong học hành, thi cử và thể hiện khát vọng được đỗ đạt, đổi đời. Sự tích này xuất phát từ bên Tàu thời xưa, tương truyền từ thời vua Vũ nhà Hạ nhưng lại có hai địa danh cùng có tên Vũ Môn đều thuộc thượng du sông Hoàng Hà (nay thuộc hai tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây, Trung Quốc).

Ở nước ta, riêng xứ Nghệ cũng có hai nơi có địa danh thác Vũ Môn. Một ở miền Tây huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), trong dãy núi Giăng Màn (Khai Trướng), thác Vũ Môn nơi đây có 3 bậc, tương truyền đến ngày 8 tháng 4 âm lịch, cá chép vượt qua được thác này sẽ hóa rồng.

Nhiều tao nhân, mặc khách đã có ghi chép hoặc đề vịnh về sự tích này như Cao Bá Quát và Trương Quốc Dụng trong sách Mẫn Hiên thuyết thoại, Hoàng giáp Bùi Dương Lịch trong sách Nghệ An ký cũng có đề thơ. Còn tiến sỹ Dương Thúc Hạp trong tập An Tĩnh sơn thủy vịnh có tới hai bài nhắc tới sự tích này(cả thác và núi).

Địa danh thứ hai cũng có tên Vũ Môn ở núi Eo Vực Bồng, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (Nghệ  An). Theo nhạc sỹ Trần Vương trong một bài viết trên báo Nghệ An kể rằng, cứ vào dịp sang Thu (khoảng tháng 8,9 âm lịch), nước sông Lam dâng lên, rồng xanh rồng vàng dẫn đội quân của mình (cá chép) về khu vực Eo Vực Bồng thi tài vượt thác Vũ Môn, làm cuộc sát hạch cuối cùng, chú cá nào vượt được thác Vũ Môn (có nhiều bậc) sẽ hóa rồng, biến thành những trận mưa mát lành cho núi rừng miền Tây tươi đẹp.

Không chỉ trong chuyện kể dân gian và văn học thành văn, mà trong kiến trúc các đền, đình, chùa ở xứ Nghệ, hình tượng cá chép hóa rồng cũng xuất hiện khá nhiều, đơn cử như trong kiến trúc của đình Hoành Sơn ở Nam Đàn có bức chạm gỗ hình một người cưỡi cá chép vượt Vũ Môn, đầu cá chép đã hóa thành rồng nhưng vảy và đuôi vẫn còn là cá chép.

Hình tượng cá chép hóa rồng còn xuất hiện trên các di vật, trên mái các đền, chùa ở nhiều nơi trên đất xứ Nghệ. Đặc biệt trong nhiều nhà thờ họ có người đỗ đạt cao ở xứ Nghệ có nhiều bức đại tự, câu đối có nhắc đến sự tích cá chép hóa rồng nhằm ngợi ca đức tính khổ học thành tài của tiền nhân. Xin dẫn một câu đối ở nhà thờ họ Hồ Tam Công thờ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (xã Thọ Thành, Yên Thành) như sau: “Lưỡng thế tranh nguyên phiêu Hồng Tháp/ Nhất gia thịnh sự dật Long Môn” (nghĩa là: Mấy đời nối tiếp tranh đạt Trạng nguyên/ Một nhà đỗ đạt thịnh vượng nhờ vượt Vũ Môn).

Vậy là hai hình tượng, hai sự tích đều xuất phát ở xứ Nghệ, đều có vật chung là cá, đều cùng mang ý nghĩa ngợi ca sự khổ học, luyện rèn “dùi mài kinh sử” để đậu đạt, chẳng lẽ không có gì liên quan đến nhau? Theo thiển nghĩ của chúng tôi, người xứ Nghệ vốn có đức tính cần cù, khổ học lại khéo tay hay làm, vốn có nghề mộc rất tinh xảo ở nhiều nơi.

Lúc đầu, các ông đồ, anh khóa vốn cũng là những nghệ nhân làm nghề mộc tài hoa nhưng vì quan niệm “làm thầy nuôi vợ, làm thợ nuôi miệng” nên quyết chí đi học, đi thi nên đã tạc nên con cá bằng gỗ như một tác phẩm tạo hình, gửi gắm khát vọng được như “cá hóa rồng” và mang theo mình đi dạy học hoặc “lều chõng đi thi”.

Nhưng cũng từ người xứ Nghệ vốn có tài nói trạng mà từ hình tượng “cá hóa rồng” lại được “chế tác” ra một hướng khác (mang tính trào lộng, bôi bác để vui cười) là giai thoại “con cá gỗ” nhằm để…xin nước mắm, nặng về tính kiệm ước, tằn tiện là chính. Vừa qua, thật may mắn được nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đào Tam Tỉnh, Giám đốc Thư viện Nghệ An cho biết ông vừa sưu tầm được một cổ vật là con cá gỗ được tạo hình rất tài hoa của ông đồ xứ Nghệ, tác phẩm này được chạm khắc công phu, giữa mình cá còn khắc một chữ Lộc, xung quanh viền hoa lá rất sinh động, vảy và đuôi cá gần giống với bức chạm ở đình Hoành Sơn.

Đây có thể xem là một chứng tích để củng cố thêm suy nghĩ của chúng tôi. Để kết thúc bài viết nhỏ này, chúng tôi xin dẫn thêm một chứng lý nữa, đó là trong bài thơ “Trên hào xem cá” (Hào thượng quan ngư) của cụ Thám Nguyễn Văn Giao (1811- 1863) có những câu: “…Mong được theo thần cá/ Vùng vẫy vạn dặm khơi”. Chắc chắn các nho sỹ xưa đều có chung khát vọng được như “cá chép hóa rồng” để được vùng vẫy thỏa chí tang bồng. Vậy là hai hình tượng cá…gỗ đều cùng một khát vọng hóa rồng, tuy hai mà một gốc. Nhân dịp Xuân mới, xin góp vài ý nhỏ mang tính gợi mở ban đầu còn sơ lược, mong được trao đổi thêm!

 

nguồn: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/van-hien-lac-viet/print/ca-hoa-rong-va-ca-go-2901/

đọc công án

đọc công án 

long trời, tiếng vỗ, một bàn tay
đỏ dâu, ngon ngọt, mau cắn ngay
bỏ xuống, không được, nâng lên vậy
rỗng chén, thơm trà, thoảng gió lay 

Saigon
13/12/2009
Thiên Thu Bình

Ngái Ngôi

Ngái Ngôi

tặng Em Gấy Đô Lương

Em về xứ Nghệ ngái ngôi
chắc Anh ở lại đơn côi ngập trời
nôn ngày chờ, nao tháng đợi
trùng triềng nỗi nhớ, cập cợi buồn vui.

thân trai bão dập mưa vùi,
bền tâm, vững chí không lùi gió sương.
bôn ba phận khách vô thường,
chầu mô thoát kiếp ly hương lại về.

thuyền xưa cập khúc sông quê,
bến vui như hội, bốn bề nở hoa.
Em về thưa với mẹ cha,
ngái ngôi ghin lại, mình ta ta mình.

Saigon, 05/08/2010
Đông Bích Lãng Hiệp
Thiên Thu Bình
Nguyễn Văn Chính

Ghi chú: tác phẩm thuộc dự án “Nghệ ngữ hóa thơ ca” của Thiên Thu Bình

Mã Đầu Cầm

Mã đầu cầm


Trong các làng mạc ở Mông Cổ, vẫn còn nhiều người đi hát dạo, vừa ca vừa đàn. Giọng ca ai oán não nùng. Tiếng đàn như khóc như than.

Cây đàn bằng gỗ, thùng đàn hình thang, cần dài. Đầu cần có trạm hình đầu con ngựa. Cung đàn làm bằng đuôi ngựa. Người Mông Cổ gọi cây đàn này là “Khil Khuua” (???), ta tạm gọi là “Mã đầu cầm” (cây đàn đầu ngựa).
Tương truyền: về phía bắc xứ Mông Cổ có một Thiên Miếu, người bản xứ gọi là “Bogdokure”. Đây là một miếu để thờ trời. Muốn đến đây, người ta phải băng rừng lướt bụi bằng ngựa suốt bốn mươi ngày. Kế đến là ngọn Cấm Sơn mà người Mông Cổ gọi là “Jasaktu Ui”. Đây là một vùng hoang vu.
Ở mấy thung lũng, thỉnh thoảng có 8 con ngựa đến ăn cỏ. Đó là những con thiên mã rất đẹp. Ngoài 7 con mập mạp, mạnh mẽ có một con lại gầy gò, nháy mắt đã đi xa được ngàn dặm. Người Mông Cổ gọi là “Jonung Khara Mori”, ta có thể tạm gọi là con Thiên lý mã.
Nhiều đêm, nhị thập bát tú sa xuống. Vừa đến mặt đất thì 28 vì sao ấy biến thành 28 tướng trẻ tuổi mỹ mạo tuấn tú, mặc kim giáp kim bào. Hai mươi tướng ngồi trên ngựa. Còn tám tướng kia thì đi thẳng đến Cấm Sơn, rồi cưỡi tám con thiên mã đương ăn cỏ ở đấy. Bấy giờ, họ mới phi ngựa rong chơi khắp nơi. Rồi đến khi trời vừa hừng đông thì họ trở về trời, thành 28 vì sao như cũ. Và khi tối đến thì họ lại xuống trần gian.
Một hôm, vị tướng trẻ tuổi chỉ huy trong 28 vì sao ấy cưỡi con Thiên lý mã đi dạo, bỗng gặp một cô thôn nữ duyên dáng xinh tươi, sinh lòng cảm mến. Rồi cả hai cùng tha thiết yêu nhau.
Cứ hàng đêm, chàng đến với nàng, chung gối giao đầu, âu yếm trong túp lều tranh đầm ấm của cô thôn nữ. Rồi khi vừng hồng sắp ló dạng thì chàng phi ngựa đi mất để nàng trơ trọi, cô quạnh phòng không.
Một thời gian như thế, nàng tò mò hỏi quê quán, gốc gác thì chàng mỉm cười âu yếm, tìm mọi cách tảng lờ. Lòng nghi hoặc nên một hôm, nàng không ngủ, chờ lúc chàng lên yên đi thì nàng cũng rón rén lén bước ra ngoài, bắt ngựa đuổi theo. Vì gấp rút để về thiên đình cho kịp giờ trước trời sáng nên chàng không hay gì cả. Nhưng ngựa của chàng chạy quá nhanh, thoáng chốc người và ngựa đều biến mất. Nàng thôn nữ không đuổi theo kịp, đành thui thủi quay về.
Tuy vậy, nàng cũng tìm được một ít sự thực về con ngựa khác thường này, nên một hôm thừa lúc chàng ngủ say, nàng lẻn ra ngoài. Đến gần ngựa, nàng quan sát kỹ, thấy phía sau mỗi chân ngựa có một cánh nhỏ, lúc ngựa không chạy thì cánh xếp lại. Nàng mừng rỡ; và vì muốn giữ mãi người yêu bên cạnh mình nên nàng cắt lấy 4 cánh ấy.
Cũng như thường lệ, trời vừa rạng đông, chàng trai trẻ lén trỗi dậy ra ngoài, lên yên phi ngựa về thiên đình. Nhưng lần này chàng lấy làm ngạc nhiên là ngựa chạy quá chậm. Trời sắp sáng mất, ngựa lại thở hồng hộc. Đến giữa một bãi sa mạc mênh mông, con thiên lý mã quỵ xuống và trút hơi thở cuối cùng.
Vầng thái dương đã mọc rồi. Ngôi sao chàng đã tắt. Chàng không còn hy vọng trở về thiên đình mà cũng không còn mong gì trở lại với người yêu để cùng âu yếm trong túp lều tranh đầm ấm hôm xưa. Cô độc giữa bãi sa mạc, chàng buồn bã ôm lấy xác ngựa. Nước mắt chàng rỏ xuống thân ngựa, bỗng nhiên con ngựa biến thành cây đàn. Đầu ngựa là đầu đàn, đuôi ngựa là dây đàn. Chàng đưa tay nhẹ vuốt mấy dây, bật lên thành tiếng não nùng. Tiếng chàng thở than hòa với tiếng não nùng ấy thành những lời ca cực kỳ ai oán.
Chàng khóc tiếc quãng đời địa vị của chàng. Chàng khóc cái chết của con ngựa quý. Chàng lại khóc cho mối tình tan vỡ đối với nàng thôn nữ, người yêu tha thiết đã vì quá yêu mà vô tình gây nên họa thảm, biết bao giờ được hàn gắn mối duyên xưa.
“Mã đầu cầm” là một thiên tình sử bi đát của người Mông Cổ. Mà âm thanh của nó chỉ để phô diễn những nỗi sầu buồn tang tóc bất diệt của loài người.

nguồn: maxreading.com

Thái Bình Yến – Tuyệt Anh Hội

Thắng trận, Sở Trang vương đời Xuân Thu truyền bày tiệc liên hoan, gọi là “Thái bình yến”. Phàm các quan văn võ bất cứ cấp nào đều được tham dự.
Khi mặt trời gần lặn, tiệc rượu còn đương vui say, Sở Trang vương truyền đốt đèn lên, lại cho một nàng hầu yêu tuyệt đẹp là Hứa Cơ đi mời khắp quan triều thần, mỗi người một chén rượu.
Được mỹ nhân chuốc rượu, các quan lấy làm vui vẻ thích thú đều đứng dậy đón lấy rượu uống. Bỗng có một ngọn gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện tắt phụp cả. Điện tối mò. Bọn nội thị còn đương loay hoay đi châm lửa chưa đến. Trong hàng quan đại phu có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, đưa tay nắm lấy vạt áo của nàng. Hứa Cơ tay trái giằng vạt áo, tay mặt chụp được dải mũ của người ấy.
Dải mũ đứt, người ấy sợ lắm vội buông tay ra. Hứa Cơ lấy được dải mũ, rón rén đến trước Sở Trang vương, ghé tâu:
– Thiếp vâng mạng đại vương ra mời các quan uống rượu, thế mà có người vô lễ dám nhân lúc tắt đèn, nắm lấy vạt áo thiếp. Nay thiếp đã bứt được cái dải mũ của người ấy, vậy xin đại vương giục thắp nến mà xét xem.
Nhưng Sở Trang vương lại truyền cho bọn nội thị chớ thắp nến vội, đoạn bảo các triều thần:
– Ngày nay ta bày tiệc mong cùng các quan mua vui. Vậy các ngươi nên bứt đứt dải mũ cả đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không bứt đứt dải mũ thì chưa được vui lắm.
Nghe lịnh dạy, tất cả triều thần đều bứt đứt dải mũ của mình. Bấy giờ Sở Trang vương mới cho thắp đèn lại. Thành ra không ai biết người nào làm ẩu, níu lấy vạt áo mỹ nhân cả.
Tiệc xong trở về cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang vương:
– Thiếp nghe nói kẻ trai gái phải có sự phân biệt, huống chi là vua tôi. Đại vương sai thiếp mời các quan uống rượu là để tỏ lòng mến, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa.
Sở Trang vương cười bảo:
– Ta bày tiệc rượu này là muốn các quan đều được cùng vui. Rượu say sinh ra chớt nhã chẳng qua cũng là lẽ thường tình. Nếu ta trị tội một người mà làm cho các quan không được vui thì ta không muốn.
Hứa Cơ nghe nói, phục là người có lượng.
Một hôm Sở Trang vương đem quân đánh nước Trịnh, có một viên phó tướng tên Đường Giao xin đem 100 thủ hạ đi mở đường.
Đường Giao cố sức xông pha. Quân nước Trịnh không ai đương nổi. Vì thế, đại binh của Sở Trang vương tiến thẳng đến địa giới của nước Trịnh một cách mau lẹ. Sở Trang vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh chóng như thế, mới triệu Đường Giao đến, toan trọng thưởng. Đường Giao thưa:
– Tôi chịu ơn đại vương to lắm. Ngày nay gọi chút báo đền, có đâu lại dám lãnh thưởng.
Sở Trang vương ngạc nhiên hỏi:
– Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo là chịu ơn ta.
Đường Giao thưa:
– Trong tiệc rượu có người nắm áo Hứa Cơ và bị đứt dải mũ, tức là tôi đó. Đại vương rộng lượng tha, không giết mà còn tìm cách làm tôi không phải bị nhục, vậy tôi cố sức phải báo đền.
Sở Trang vương truyền ghi công ấy để về sau phong thưởng. Nhưng Đường Giao nói với bằng hữu:
– Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy ta nên cố sức báo đền. Nay đã nói rõ sự thực rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà còn chờ đợi phong thưởng hay sao?
Ngay đêm hôm ấy, Đường Giao bỏ trốn.
Tiệc rượu “Bứt đứt dải mũ” gọi là “Tuyệt anh hội”. Về sau này, nó có ý nghĩa chỉ tấm lòng đại lượng của kẻ bề trên đối với kẻ bề dưới. Và, lòng đại lượng ấy bao giờ cũng đem đến một kết quả tốt đẹp.

 

Địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh – GS.TS. Nguyễn Nhã Bản

Địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh

GS.TS. Nguyễn Nhã Bản

1. Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: “Topos” (vị trí) và “omoma”/”onyma” (tên, gọi). Trong ngôn ngữ học, ngành địa danh học (Toponymic) và nhân danh học (Athronymic) thuộc bộ môn khoa học có tên là danh xưng học (onomasiologie). Trên lý thuyết, danh xưng học còn có một ngành khoa học nữa là vật danh học (nghiên cứu tên riêng của các thiên thể, nhãn hiệu sản phẩm, biển hiệu…). Tất cả các tên gọi địa lý được đánh dấu, ghi nhận bằng các địa danh và những nhà nghiên cứu tên gọi đó là các nhà địa danh học. Trong tác phẩm Địa danh học là gì, A.V. Xuperanxkaja đã định nghĩa: “Địa danh là một chuyên ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu các tên gọi địa lý, giải thích sự cấu tạo, lịch sử xuất hiện của chúng và phân tích ý nghĩa ban đầu của các từ cấu tạo nên địa danh” (7, tr.3). ở Việt Nam, các quyển từ điển giải thích cũng đã lý giải nội dung của thuật ngữ này và hơn thế đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về địa danh của Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Trần Văn Dũng, Phan Xuân Đạm … Trong bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu sự tồn tại của địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh.

Tư liệu khảo sát là “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh”. ở đấy, chúng tôi đã thống kê được tất cả 1.894 mục từ: 998 thành ngữ và 896 tục ngữ. Hai đơn vị này được quan tâm, nghiên cứu trong ngôn ngữ học, văn hoá dân gian, văn hoá học… Dĩ nhiên, do cách tiếp cận mà mỗi ngành học, người nghiên cứu hai đơn vị này theo những cách khác nhau. Theo quan sát của chúng tôi, xét về độ dài thì bao giờ tục ngữ cũng dài hơn thành ngữ và sự tồn tại của địa danh trong tục ngữ nhiều hơn hẳn thành ngữ. Có lẽ lý do này được giải thích bằng những đặc trưng, nội dung, kết cấu của từng đơn vị. Xin đơn cử tục ngữ dài nhất và rất nhiều địa danh (36 âm tiết): lắm ló Xuân Viên, lắm tiền Hội Thống, lắm nống Do Nha, lắm cà Lộc Châu, lắm dâu Cẩm Mỹ, lắm bị Kẻ Găng, lắm măng Kẻ Cừa, lắm bừa Trung Sơn, lắm cơn Yên Xứ. Tất cả các địa danh này đều thuộc Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Có lẽ đây là tục ngữ dài nhất không chỉ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh mà còn với cả tục ngữ tiếng Việt nói chung.

2. Chúng tôi xin dẫn ra một số tục ngữ tồn tại các địa danh trong tục ngữ (được xếp theo trật tự trong từ điển).

Ai muốn ăn bún ăn lòng
thì sang Thổ Hậu lấy chồng mà ăn.

Ai về Hà Tĩnh thì về
mặc áo lụa Hạ uống nước chè Hương Sơn

Ai về Thạch Hà mà coi
Bắc nồi lên bếp xách oi ra đồng

ăn cơm độn ngô mà nói chuyện thủ đô Hà Nội

ánh đa chợ Cày bánh tày chợ Voi.

bánh đúc cháo kê là nghề làng Trại đánh nhau mãi mãi là nghề làng Vinh làm thợ làm đình là cha con ông Phó Hoạch.

bao giờ Đại Huệ mang tơi
rú Đụn đội nón thì trời mới mưa.

bao giờ mống Mắt mống Mê
thuyền câu thuyền lái chèo về cho mau

bao giờ ngàn Hống mang tơi
rú Thành đội mạo thì trời hẳn mưa

bao la ngàn Hống mây mờ giăng giăng,

bạo ăn Trường Lại bạo cãi Trường Phong

bún Phương Giai mai Thắng Lợi, bút Cấm Chỉ sĩ Thiên Lộc.

bụt Chùa Già ma Chùa Dọc

bưởi Phúc Trạch cam bù Hương Sơn hồng vuông Thạch Hà,

cá Bàu Nậy chè Khe Yên

cá Cửa Nhượng khoai Mục Bài

cá rô Bàu Nón nước tương Nam Đàn,

cá sông Giăng măng chợ Cồn,

cau Lường Trù Hiếu, cầu rú Hống mống Tả Ao

chè chợ Lù cá mu chợ Huyện, chè rú Mả cá đồng Sâu

chợ Cày chân dép chân giày

chợ Eo nuôi rể chợ Huyện kể du

chớp Cửa Lò rệt bò mà chạy
chớp cửa Rào dỡ rào mà nấu
chớp mũi Đao dỡ rào mà nấu
chớp mũi Lội cổi áo ra phơi

Cửa Hội khó vào, Cửa Trào khó ra

dân chợ Cày vắt mỏ trày lấy nác

đất làng Trù du Dao Tác

đầu gối Lèn chân đạp Câu

đầu năm gặp nạn cháy nhà
cuối năm anh bạn Thạch Hà tới chơi

đền Cờn đền Quả Bạch Mã Chiều Trưng

đỉa Nậy Na ma Xối ải

Đinh Lự tốt nếp đẹp ngài

Đồng Tháp cậy thế lắm quan đem về mà nộp chợ Giàn cho vui

Đồng Môn dệt vải
Cổ Đạm vắt nồi
chợ Bộng vắt bình vôi
Xuân Liệu bắt nạm cáy hôi

ga Trảo Nha gáy tiếng hay trự
chó Văn Cử sủa tiếng hư ăn

gái Tràng Lưu sưu làng Mật

gan Kẻ Sọt rọt Kẻ Sừng

Hoành Sơn mây bá Bàn Độ lấp mào thế nào cũng mưa

Hội thống lắm tiền
Xuân Viên lắm ló
Tiên Điền lắm quan

Kẻ Cài reo Kẻ Treo khóc

Kẻ Sóc reo, Kẻ Giặm đục đá nấu vôi
Kẻ Treo mổ mèo lấy cá
Kẻ Vọt mổ rọt thiên hạ
Kẻ Vùn dáy khun hàng xứ

khe Đá Hàn lắm nác
khe Đá Bạc lắm rều

khoai chợ Lù, bù chợ Huyện

khoai La Mạc, lạc Cao Điềm, tiền Hạnh Lâm, mâm Văn Chấn, mấn Cát Ngạn

lạc Đồng Chợ, vợ Kim Chuỳ

mây rú Hôống dựng lên cao dê ra ăn trự (trữ) thế nào cũng mưa

mẹo Tràng Lưu, mưu làng Hốt

mống Tả Ao trở trào không kịp

mưa Cẩm Nang kiếm đàng mà chạy, mưa Kẻ Nại đứng lại mà coi

mưa bên Quát lấy quạt mà che mưa Kẻ E lấy bè mà chở

nghênh ngang chợ Gát, bát ngát chợ Cày

nhút Thanh Chương tương Nam Đàn

rộc Mỹ Tú lắm cá, lèn Trung Phường lắm đá

đất chợ Động lắm nồi, đất Văn Tập lắm vôi

rú Bờng, rú Mã, rú Bơn
ba rú họp lại bằng một chin rú Hồng

rú Đọ đội mũ rú Vọng ấp mái thì trời mưa

rú Hôống đeo đai, rú Cài đội mạo

siêng làng Trác, nhác làng Sau, lắm cau làng Nồi, bạo ngồi Đồng Cạn, lắm bạn làng Chùa, lắm vua Đồng Địch

sổ làng Lạch lau lách cũng khô, sổ cầu Bùng lấy thùng đựng nác

sổ quàng Rông hướng Đông thì bão

Thanh cậy thế Nghệ cậy thần

Tiên Điền, Tiên Bào sinh anh hào thông thái
Đan Tràng Đan Hải sinh khảng khái nhiều người

trai Cát Ngạn gái Đô Lương

trai Đông Thái gái Yên Hồ

trai Đông Phái gái Phượng Lịch …

Rõ ràng, tục ngữ là câu, là thông điệp nghệ thuật nên chúng chứa đựng rất nhiều thông tin về nhiều kiểu loại khác nhau, trong đó là sự xuất hiện rất nhiều các địa danh. Trong cuộc đời, ai mà chẳng đi qua, chẳng sống và gắn với những địa danh khác nhau. Địa danh trong tục ngữ hay đúng ra chúng tồn tại trong tục ngữ hẳn có lý do riêng. Có thể là những địa danh gắn với kinh nghiệm sản xuất, gắn với dự báo thời tiết, gắn với đặc sản, nghề nghiệp… hoặc những nét riêng về sự học hành, đỗ đạt … và ngay cả những thói xấu nữa. “Bà rú Lông đi ông rú Trà” liên quan đến hai địa danh thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An. Rú Trà thuộc xã Thanh Phong, rú Lông thuộc xã Thanh Hương. Tục ngữ này sử dụng cách nói nhân hoá để chỉ một hiện tượng khí hậu ở địa phương. Về mùa gió Lào gió thường thổi chiều từ rú Lông gây nên những cơn lốc nhỏ thổi xuống rú Trà làm cho nhà cửa đổ sập, mùa màng hư hại. Khi xẩy ra hiện tượng này, dân địa phương quan niệm là bà thần rú Lông đi thăm ông thần rú Trà.

Bà rú Lông đi ông rú Trà
Ngã nghiêng cây cối cửa nhà vẹo xiên
Đồng dao

“Mây rú Hôống dựng lên cao dê ra ăn trự thế nào cũng mưa”. Dê ra ăn trự: dê vốn là loại động vật ăn cỏ rất nhạy cảm với thời tiết, hễ cảm thấy sắp mưa thì thế nào chúng cũng ăn gắng dự trữ khi mưa dài ngày. Kinh nghiệm của người dân địa phương, thấy núi Hồng mây dựng lên cao theo sườn núi, dê đã quá bữa rồi mà vẫn gắng ăn thì thế nào trời cũng mưa. “Mống rú Vạc lạc cạc dọn lụt”: nghĩa là mống rú Bạc là dấu hiệu trời sắp mưa lụt… Tương tự như thế, kiểu như: sổ làng Lạch lau lách cũng khô, sổ cầu Bùng lấy thùng đựng nác, sổ quàng Rông hướng Đông thì bão, …

Muốn xem xét, xác định văn hoá Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh Đông Nam á. Đơn vị quan trọng của cư dân văn hoá lúa nước là làng, Nước là làng nâng cao và làng là nước thu nhỏ. Hàng loạt tác giả cũng đã biết nhiều về làng. Làng ở khu vực Nghệ Tĩnh cũng thế. Trên thực tế, có những làng nổi tiếng về những mặt, nghề nghiệp khác nhau. Ví dụ như làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu nổi tiếng về học hành, khoa bảng, làng Nho Lâm, Diễn Châu nổi tiếng về nghề rèn, làng Vạn Phần, Diễn Châu nổi tiếng về nghề nước mắm,… lại cả những nghề khác như đan võng, dệt vải, dệt chiếu, cách phản ánh của nghệ sĩ dân gian trong tục ngữ cũng rất Nghệ: “Bạo ăn Trường Lại bạo cãi Trường Phong”. Trường Lại và Trường Phong là hai làng thuộc xã Kỳ Thịnh, Kỳ Anh rất nổi tiếng ăn khoẻ và hay lý sự. “Siêng làng Trác nhác làng Sau lắm rau làng Nồi bạo ngồi Đồng Cạn lắm bạn làng Chùa lắm vua Đồng Địch”. Các làng vừa nêu và với những nét riêng đều thuộc xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân. “Tiên Điền, Tiên Bào sinh anh hào thông thái Đan Tràng, Đan Hải sinh khảng khái nhiều ngài”.

Các làng Tiên Điền, Tiên Bào thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh và Đan Tràng, Đan Hải thuộc huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Nhiều danh nhân hào kiệt xuất hiện tại đây. “Hội Thống lắm tiền Xuân Viên lắm ló Tiên Điền lắm quan” Hội Thống nay là xã Xuân Hội; Xuân Viên, Tiên Điền là những làng nổi tiếng của huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh ngày xưa. Dân Hội Thống thì giàu nhờ nghề biển và buôn bán, lắm tiền; dân Xuân Viên thì giàu về lúa gạo và Tiên Điền là đất văn vật nhiều người học hành đỗ đạt nên lắm quan. “Kẻ” là tên nôm tương đương với làng, vùng “Kẻ Giặm đục đá nấu vôi miệng thì thổi lửa tay lôi rành rành”. Câu tục ngữ này phản ánh sự vất vả của nghề nấu vôi của người dân vùng xung quanh lèn Hai Vai (Kẻ Giặm), huyện Diễn Châu, Nghệ An. “Kẻ Vọt mổ rọt thiên hạ”. Kẻ Vọt là tên nôm của làng Bình Lãng Hạ nay thuộc phường Bắc Hồng, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh. Tương truyền dân Treo Vọt xưa thuộc loại ngược ngạo, đầu trộm, đuôi cướp. “Kẻ Vùn dáy (dạy) khun hàng xứ. KẻVùn là tên nôm của làng Yên Điểm, nay thuộc xã Thịnh Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Gọi Kẻ Vùn vì nơi đây cát biển Vun (Vùn) lên một giải cát cao hàng chục mét và dài hàng chục ki-lô-mét kéo từ đầu làng giáp Cương Gián, Nghi Xuân đến cuối làng xã Thạch Kim, Thạch Hà. Dải cát này chắn biển như một cái đê bao, dân nơi đây gọi là Truông Vùn. Dân Kẻ Vùn sống bán ngư bán nông, nghèo nên hay tha phương cầu thực vì thế mà khôn hơn xứ khác.

Mỗi khu vực, vùng nổi tiếng về sản phẩm, nét riêng và khu vực Nghệ Tĩnh cũng như thế. “Nhút Thanh Chương tương Nam Đàn” là hai sản phẩm nổi tiếng thuộc hai huyện của tỉnh Nghệ An.

Nhút Thanh Chương cũng ngọt
Kể chẳng mấy đồng tiền
Xơ mít chất đầy hiên
Bằm một khi tám nống
Bằm một lần mười nống
Vè Nghệ Tĩnh

“Cá sông Giăng măng chợ Cồn”: sông Giăng và chợ Cồn đều thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An.
Cá sông Giăng, măng chợ Cồn
Thanh Liên, Nhân Lạc, chợ Đồn lắm khoai
Hát phường vải

“Bưởi Phúc Trạch cam bù Hương Sơn hồng vuông Thạch Hà” là những đặc sản thuộc các huyện Hà Tĩnh. Hoặc như: Cá bàu Nậy chè khe Yên, cá Cửa Nhượng khoai Mục Bài, cá rô Bàu Nón nước tương Nam Đàn, cau Lường trù Hiếu”, …
Liên quan đến điều vừa nêu trong tư liệu của chúng tôi có tồn tại 3 tục ngữ có số lượng âm tiết và cấu trúc giống nhau: Trai Đông Thái gái Yên Hồ, trai Đông Phái gái Phượng Lịch và trai Cát Ngạn gái Đô Lương. Hai tục ngữ “Trai Đông Thái gái Yên Hồ” và “Trai Đông Phái gái Phượng Lịch” nghĩa gần như nhau và chỉ khác nhau về địa danh. Đông Thái thuộc xã Châu Phong, Yên Hồ thuộc xã Đức Diên, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Trai Đông Thái nổi tiếng thanh lịch, tài giỏi, gái Yên Hồ xinh đẹp, giỏi giang. Trai gái hai làng thường kết duyên Tấn Tần với nhau. Trai tài – gái sắc, anh hùng – thuyền quyên nổi tiếng cả một vùng đất văn vật xưa nay. Câu này thường được dùng như một hoán dụ để thể hiện niềm tự hào của người dân xứ này về đất nước và con người quê mình:
Trai Đồng Thái gái Yên Hồ
Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên
Ca dao

Còn “Trai Đông Phái gái Phượng Lịch” nghĩa cũng như trên nhưng hai địa danh này lại thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An.
“Trai Cát Ngạn, gái Đô Lương” là nghĩa hoàn toàn trái với hai tục ngữ vừa nêu. Cát Ngạn nay là xã Cát Văn, huyện Thanh Chương và Đô Lương là một huyện thuộc tỉnh Nghệ An. Trai Cát Ngạn gái Đô Lương nổi tiếng buôn bán táo tợn, đanh đá.

Gái này là gái Đô Lương
Gái buôn nái tấm gái lường vải con
Gái này là gái chả non
Gái lường chợ Điếm, gái buôn chợ Dừa
Ca dao

Em là con gái Đô Lương
Anh trai Cát Ngạn chung đường bán mua
Lộ lời khi được khi thua
Ngọt bùi nỏ thiếu, chanh chua ai bằng
Ca dao

Nghệ Tĩnh là một khu vực được coi là địa linh nhân kiệt và điều này đã được phản ánh từ nhiều phương diện khác nhau. Hàng loạt địa danh đã minh chứng cho điều này. Và chính tục ngữ cũng đã tàng trữ một số địa danh phản ánh rõ điều đó. Kiểu như: Thanh cậy thế Nghệ cậy thần, đền Cờn đền Quả Bạch Mã Chiêu Trưng, Cửa Hội khó vào Cửa Trào khó ra.
“Cửa Hội khó vào, cửa Trào khó ra”, theo Bùi Dương Lịch, Cửa Hội chính tên là Hội Thống. Cửa Hội (Hội Hải) ở giáp hai huyện Nghi Xuân và Chân Phúc. Nước sông Lam chảy ra cửa này, do các sông khác đổ vào, nguồn xa, đường dài. Nước triều mặn dâng lên rất gần. Đảo Song Ngư đứng sừng sững ở cửa biển, thuyền ra vào gặp nhau khó khăn. Vì thế ngạn ngữ có câu: Cửa Hội khó vào, Cửa Trào khó ra (Cửa Trào tức là lạch Trào ở Thanh Hoá, cũng gọi là Cửa Hội Trào. Cửa này sâu hẹp, quanh co, vì thế dân địa phương quen gọi là cửa dễ vào – khó ra. Lê Thánh Tông tuần thú phương Nam có thơ vịnh cửa Đan Nhai (là tên khác của Cửa Hội, ngày nay ở địa phương còn có những địa danh như Đan Hoàng, Đan Hải, Đan Phổ…)
Lịch sử vùng đất Nghệ Tĩnh với tên gọi “phên dậu”, “thắng địa”, “đất đứng chân” của bao anh hùng hào kiệt. Chẳng hạn như, ngay ở Nghệ An cũng đã có đến hàng trăm vị thần được thờ tại các làng, trong đó có 8 vị thần sau đây được thờ phổ biến hơn cả: 1. Cao Sơn Cao Các; 2. Tứ Vị Thánh Nương; 3. Đại Mộc Tôn Thần; 4. Liễu Hạnh Công Chúa; 5. Bạch Y Công Chúa; 6. Đế Thích Đại Phan; 7. Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và 8. Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn. Đặc biệt có hai nhân thần được thờ cúng khắp nơi, đó là Lý Nhật Quang và Hoàng Tá Thốn. Hippolyte Le Breton đã viết: “ở An Tĩnh có câu phương ngôn rất nổi tiếng: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần”, nghĩa là: “Tỉnh Thanh Hoá dựa vào ân huệ của vua, đất Nghệ Tĩnh được thần phù hộ”. Nếu cho đến ngày nay, Thanh Hoá là đất được hưởng của triều Nguyễn. Nhưng Nghệ Tĩnh không ganh tị về chuyện đó vì Nghệ Tĩnh lại là đất được lựa chọn của những vị thần bảo hộ. Và các vị thần ấy đều được thờ cúng một cách trang trọng vô chừng. Nghệ An lấy làm hãnh diện có bốn trong số những ngôi đền đẹp nhất ở An Nam: “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã Chiêu Trưng” (4, tr.29).

Qua nhận xét vừa nêu, chúng ta có thể hiểu được tục ngữ “Thanh cậy thế Nghệ cậy thần”. Thanh Hoá là nơi sinh nhiều vị vua chúa. Thời Lê Sơ tồn tại 99 năm (1428 – 1527), mở đầu là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và có 11 vị vua. Thời Lê Trung Hưng (1533 – 1788), tồn tại 255 năm, trải 17 đời vua. Triều Nguyễn trải qua 9 đời chúa, 13 đời vua. Riêng Vương triều Nguyễn trải 143 năm (1802 – 1945), mở đầu là Nguyễn Thế Tổ, tức Gia Long (Phước ánh). “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã Chiêu Trưng” là các địa danh liên quan đến 4 ngôi đền ở Nghệ Tĩnh. Đền Cần tức đền Cờn. Về ngôi đền này, Phan Huy Chú đã viết rất cụ thể” “Đền Cần Hải còn gọi là đền Cờn ở huyện Quỳnh Lưu. Chuyện kể ngày xưa có ba mẹ con công chúa Nam Tống bị chết chìm; xác trôi vào đây nhưng thây hãy còn tươi tắn như khi đang sống, người địa phương lấy làm lạ nên họ lo chôn cất và lập mộ đàng hoàng. Về sau, khi Trần Thánh Tông cầm quân đi dẹp Chiêm Thành có trú quân ở cửa biển này, đêm nằm vua mộng thấy một người đàn bà nói rằng: Thiếp là con gái của nhà Triệu, vì sóng gió mà phiêu bạt vào đây, đã được thượng đế phong làm thần biển, nay nghe Bệ Hạ đi dẹp phương Nam, thiếp xin được đi theo phù hộ để Bệ Hạ lập nên công lớn. Sáng hôm sau vua hỏi các bô lão địa phương mới biết ra sự tích ấy, đến lúc nhà vua tiếp tục đi thì thấy sóng yên biển lặng, vua xuống chiếu lập đền thờ và cúng tế. Đền này ngày càng nổi tiếng và linh thiêng, tên đền là Thánh Nương và được phong là Thượng Đẳng Thần. Chuyện này thấy chép trong linh ưng truyện. Ông Phan Chánh An có làm thơ:

Hương hoả thiên thu âm tục Tống
Phong ba nhất mộng mặc phò Trần.
Tạm dịch:
Hương hoả ngàn thu nhờ cháu Tống
Ba đào giấc mộng giúp vua Trần
(3, tr.183)

Đền Cờn hiện ở xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu. Lễ hội đền này diễn ra hàng năm từ 15 đến 21 tháng Giêng âm lịch. Phần hội diễn ra trong suốt 7 ngày, có đốt pháo bông, đua thuyền, và chủ yếu là “chạy ói”.
Đền Quả Sơn thường gọi là đền Mượu thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, hoàng tử thứ tám của vua Lý Thái Tổ, tri châu Nghệ An (1039 – 1055). Đền này đã từ lâu được xây dựng dưới chân núi Quả, tại làng Miếu Đường (thường gọi là làng Mượu, xã Bạch Đường, huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An, nay thuộc xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương. Lễ hội hai năm mở một lần, diễn ra trong 3 ngày từ 19 đến 21 tháng giêng âm lịch. Trong đó có lễ yết cáo, lễ rước ngược (có cả trên bộ và dưới sông), diễn ra cảnh xuất quân của Lý Nhật Quang và lễ rước xuôi… Hiện tại trên đất Nghệ có trên 30 điểm lập đền thờ Lý Nhật Quang và đều coi ông là Thành Hoàng. Nhưng đáng kể nhất là đền Cả (còn gọi là đền Lớn hoặc Tam Toà đại vương) tại làng ích Hậu, Can Lộc, Hà Tĩnh. Tại vùng đất Tây Nam Hồng Lĩnh, ông cùng hai vương hầu nhà Lý là Lý Đạo Thành, Lý Thái Giai đã giúp dân khai hoang lập nên nhiều làng trong đó có làng kẻ Nhật (đến đời Lê đổi tên là ích Hậu). Vì thế dân địa phương thời chung cả ba ông và gọi là Tam Toà đại vương. Sang đời Trần, công việc khẩn hoang vùng này lại được hai vương hầu nhà Trần là Trần Quang Khải và Trần Khánh Dư tiếp tục. Sau khi mất, hai ông này cũng được hợp tự trong đền Cả.

Trong thời gian 16 năm (1039 – 1055) dưới hai triều Thái Tông và Thánh Tông, Lý Nhật Quang đã cống hiến đoạn đời đẹp nhất cho việc bảo vệ, xây dựng nước nhà, giữ vững bờ cõi, ban bố được chính lệnh, thu phục được nhân tâm, thực hiện chính sách huệ dân, khuyến thiện, trừng ác, khai mở đất đai… “Lúc đấy, ở Chiêm Thành các bộ lạc thường phản nhau, chúa Chiêm Thành sai sứ sang cầu viện, Vương đem thuỷ binh đến thẳng cửa biển Thi Nại, đóng ở dưới núi Tam Toà. Các bộ lạc Chiêm nghe tin, đều đến hàng phục và xin theo mệnh lệnh chúa Chiêm Thành. Vương bèn đem quân về. Người Chiêm Thành tưởng nhớ ơn đức lập đền thờ ở dưới chân núi Tam Toà. Sau Vương dời phủ lỵ Nghệ An đến địa phận xã Bạch Đường, rồi mất. Người địa phương tưởng nhớ lập đền thờ” (6, tr.189).

Đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Đền Bạch Mã thờ tướng quân Phan Đà, một vị tướng trẻ nổi tiếng thao lược của nghĩa quân Lam Sơn, từng lập nhiều chiến tích oanh liệt, được Bình Định Vương Lê Lợi rất yêu mến. Ông người cao lớn, hùng dũng, dung mạo rất đẹp. Lê Lợi ban cho ông một chiến mã màu trắng (bạch mã), một bộ giáp trắng. Lúc ra trận, trông ông kiêu hùng như Mã Siêu thời Tam Quốc. Ông vì mê hát bội mà bị giặc Minh phục kích rồi tử trận. Sau khi mất Lê Thái Tổ cho lập đền thờ tại nơi ông mất, tục gọi là đền Bạch Liêu.
Đền Chiêu Trưng thờ Lê Khôi. Ông là cháu ruột, con người anh trai của Lê Lợi và là một võ tướng từng lập nhiều chiến công trong nghĩa quân Lam Sơn. Quân công hiển hách nhất của ông là cùng với đại tướng quân Lê Vấn chỉ huy 3000 thiết đội quân phối hợp với cánh quân Lê Sát tiến công quân Minh ở đồn Xương Giang tháng 10 năm Đinh Mùi (11/1427) bắt sống bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc và ba vạn quân giặc. Năm Thuận Thiện thứ hai (1429), Lê Thái Tổ xét công bình ngô, ông được xếp hạng công thần, được phong tước Đinh Thượng Hầu. Năm sau, ông cùng Tư Mã Lê Liệt đem quân vào trấn thủ Thuận Hoá. Thời Lê Thánh Tông ông được phong hàm Tư mã tham tri chính sự, thời Lê Nhân Tông thăng tiếp chức Khâm sai tiết chế thuỷ bộ chủ doanh, thượng tướng quân nhập nội thiếu uý Tư Mã. Năm Thái Hoà thứ tư (1446), ông vâng mệnh làm tướng trong đội quân đi đánh Chiêm Thành do Bình Chương Lê Thụ làm tiết chế. Ông cùng Lê Thụ chỉ huy quân đội vây thành Chà Bàn bắt sống Vua Chiêm là Bí Cai giải về triều. Khi qua cửa Nam Giới, ông lâm trọng bệnh rồi mất tại đây. Vua Nhân Tông nghe tin bãi triều ba ngày, rồi sai quân đến cửa Nam Giới tổ chức điếu tang trọng thể và xây lăng mộ cho ông ở phía Tây chân núi Long Ngâm, nay thuộc xã Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Nhân dân địa phương cảm công đức của ông đã lập đền thờ ông tại đây. Tục gọi là đền Chiêu Trưng đại vương; lại còn có tên gọi là đền Võ Mục, tức là gọi theo tên thuỵ của ông.

Thực tế, khảo sát các địa danh từ hai phương diện đồng đại và lịch đại thì chúng ta sẽ “bóc dỡ”, khám phá ra nhiều thông tin khác nhau, ẩn chứa nhiều tầng văn hoá. Địa danh tồn tại trong tự nhiên và xã hội, nó là đơn vị tương đương với từ, địa danh là từ. Hơn thế, địa danh còn có mặt trong các tác phẩm văn chương ở các thể loại khác nhau, thậm chí có tác phẩm văn chương, thơ ca có tiêu đề là địa danh. Trở lên, chúng tôi chỉ sơ điểm đôi nét về sự tồn tại địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh. Để kết thúc, chúng tôi xin mượn lời của A.V.Xuperanxkaja: “Địa danh như đài kỷ niệm ngôn ngữ độc đáo và bảo giữ những thông tin về văn hoá (từ được sử dụng với tư cách là cơ sở tên gọi, căn cứ vào cách gọi tên, mối quan hệ của tên gọi với giá trị lịch sử – văn hoá của đối tượng). Tất cả điều đó được “gói lại” trên cơ sở các danh từ riêng và khả năng cấu tạo chúng. ở nhiều địa danh cũng giống các tượng đài kiến trúc bất hủ, mặt vật chất, đặc thù của mình – là vật chất ngôn ngữ để từ đó xây dựng nên tên gọi. Khái niệm không gian danh từ riêng được thay đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và từ dân tộc này đến dân tộc kia” (7, tr.16).

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
2. Nguyễn Nhã Bản (Chủ biên, 2005), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An.
3. Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt địa dư chí, Phan Đăng dịch, NXB Thuận Hoá.
4. Hippolyte Le Breton (2005), An Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), NXB Nghệ An, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Nguyễn Đình Khang và Nguyễn Văn Phú dịch, Chương Thâu và Phan Trọng Báu hiệu đính.
5. Bùi Dương Lịch (1993), Nghệ An ký, Nguyễn Thị Thảo dịch và chú, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, tập II, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB Thuận Hoá, Huế.
7. Xuperanxkaja A.V (1985), Địa danh học là gì, NXB “Khoa học” Matxcơva (Bản tiếng Nga)

 

Tục ngữ – Ca dao – Dân ca Nghệ Tĩnh (Vũ Ngọc Phan)

Tục ngữ – ca dao – dân ca Nghệ Tĩnh
Theo “Tục ngữ – ca dao – dân ca Việt Nam”
của Giáo sư Vũ Ngọc Phan, (Nhà Xuất bản Văn học) trong đó có một phần viết về “TỤC NGỮ – CA DAO – DÂN CA NGHỆ TĨNH”

A. Khái niệm về Tục ngữ – Ca dao – Dân ca:

1. Tục ngữ và Thành ngữ:

– Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán.
– Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn
Về hình thức ngữ pháp , mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.
Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh. Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em.
Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm. VD: “Áo rách, quần manh”,
“Ăn trắng, mặc trơn”, “Ăn trên, ngồi trốc”, “Dốt đặc cán mai”, “Cá bể, chim ngàn” “Bụng đói, cật rét”…. đều là thành ngữ. Còn “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa, cửa mả”…đều là tục ngữ.
Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đầu do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa) (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa).
Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất… Nó là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội, hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ. Trong tục ngữ có cả thành ngữ: “Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi”, thì “xỏ chân lỗ mũi” là thành ngữ.

2. Ca dao và dân ca:
– Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và dân ca không rõ.
Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm. Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.
Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.
Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương, còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào, thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

“Đồng đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Hay:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.
Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..
Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh. Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca):

tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,
tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

B. Thời kỳ xuất hiện:
So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.
Xét nội dung những câu “Năm cha, ba mẹ”, hay “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”, “Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang”.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…
Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

1. Nội dung của tục ngữ:
Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.
Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.
VD:

Quá mù ra mưa
Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn
Cái sảy nảy cái ung
Cõng rắn cắn gà nhà

2. Hình thức của tục ngữ:
Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

Làm phúc phải tội
Gà què ăn quẩn cối xay
Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận
Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

No nên bụt, đói nên ma
Bút sa, gà chết
Có tật giật mình

Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

May tay hơn hay thuốc
Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con

Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

Hoặc thể lục bát

Cá tươi thì xem lấy mang
Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

3. Nội dung của ca dao:
Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương
Tuyệt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.
Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:
Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.
Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.
Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.
Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

Mặt nạc đóm dày
Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn[/cente]
Ca dao ngoài nghệ thuật cụ thể hoá, còn có nghệ thuật nhân cách hoá, dùng vật vô tri để gán cho những tâm tư, tình cảm con người.

Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thời một dạ khăng khăng đợi thuyền

Một số thể cổ điển của ca dao:
Thể phú: Là trình bày, diễn tả…

Đường lên xứ lạng bao xa
Cách một trái núi với ba quãng đồng
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ
Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ
Bụng anh vẫn phẳng như tờ giấy phong…

Thể tỉ: là so sánh, người ta thường mượn một cái khác để ngụ ý, so sánh, hay gửi gắm tâm sự của mình. Đây là phương pháp nghệ thuật chủ yếu trong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm. So sánh cũng là một lối cụ thể hoá những cái trừu tượng, làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết. So sánh trực tiếp:

Gối mền, gối chiếu không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em

Lối tỉ gián tiếp, tức nghệ thuật ẩn dụ, một phương pháp nghệ thuật tế nhị hơn:

Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa, bến cũ, con đò khác đưa

….
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
– Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
– Đan sàng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?
……….
Thể hứng: Ca dao còn một phương pháp nghệ thuật độc đáo nữa là cách biểu lộ cảm xúc đối với ngoại cảnh, mở đầu cho sự biểu lộ tâm tình. Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui, cũng có thể là buồn.

Cơm trắng ăn với chả chim
Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

Trên trời có đám mây vàng
Bên sông nước chảy có nàng quay tơ
Nàng buồn nàng bỏ quay tơ
Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

1. Hát giặm
Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.
Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.
Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:
vd:
Tôi lấy chân khoả lại
Tôi lấy bàn khoả lại
hay:
Thấy những lời kêu trách
Nghe những lời kêu trách

Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.
Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.
Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi
VD:
Trai:
Tiết thanh nhàn thong thả
Muốn thăm hỏi vài câu
Cuốc thánh thót kêu sầu
Gió phảng phất mùa sâu
Nhớ trong sách đã lâu:
Chuyện “Tư mã phượng cầu”
Thương thì mũi tìm trâu
Trâu đâu tìm chạc mũi
Gái:
Trời mở rộng phong quang
Giã ơn trời mở rộng phong quang
Em đánh tiếng đua sang
Đêm tàn canh vò võ
Tay em cầm con bấc đỏ
Mong bỏ đĩa dầu đầy
Mời bạn ở lại đây
Đôi ta giở lời rày
Tình đó với nghĩa đây
Trai:
Giống như đọi nác đầy
Bưng nhẩn nhẩn trên tay
Không khuy sơ một hột
Gió nỏ triềng một hột
Công đôi ta thề thốt
Kể đã mấy niên rồi
Lòng đã quyết lứa đôi
Ngãi đã quyết thề bồi
Nhất ngôn nói hẳn lời
Đừng bốn chốn ba nơi
Đừng trăn gió chào mời
Trăng nhiều trăng rạng rỡ
Trăn nhiều đèn rạng rỡ
Gái:
Em đã có chồng rồi
Em đã có lứa rồi
Vung úp đã vừa nồi
Đũa ghép đã thành đôi
Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!
Tôi lấy chân khoả lại
Tôi lấy bàn khoả lại
Trai:
Têm một quả trầu không
Bỏ vô hộp con rồng
Đi băng nội băng đồng
Qua năm bảy khúc sông
Qua chín mười đỗi đồng
Nghe tin em đã có chồng
Anh quăng lắc vô bụi
Bạn gạt tùa vô bụi.

Anh thương em một tháng hai kỳ
Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày
Năm rộn mà chầy
Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)
Xuân qua rồi hè đến
Thu đã muộn, đông rồi
Nhớ bạn cũ chưa nguôi,
Sang lập xuân vũ thuỷ
Đêm em nằm em nghĩ
Nghĩ kinh trập, xuân phân,
Lòng tưởng sự ái ân
Sang thanh minh, cốc vũ
Đêm dêm nằm nỏ ngủ
Nhớ bạn mãi thường thường
Tiết lập hạ nhớ thương
Bước sang tuần tiểu mãn
Trông ra ngoài chán chán
Tiết mang hiện lại gần
Người đập đất, gánh phân
Để mùa màng gặt hái
Anh thương em mãi mãi
Sang hạ chí tiết hè
Em nghe tiếng sầu ve
Em buồn trong gia sự
Bạn buồn trong gia sự
***
Tiết tiểu thử, đại thử
Trời nắng sốt lắm thay!
Ra ngồi tựa cột cây
Anh với em than thở
Bạn với mình than thở
***
Tiết lập thu, xử thử
Ai diều sáo mặc ai
Vàng lác đác giếng tây
Ta thương người bạn cộ (cộ = cũ)
Nhớ mãi người bạn cộ
***
Vừa đến tiết bạch lộ
Bầy chim trắng bay sang
Cây heo hắt lá vàng
Sang thu phân hàn lộ.
***
Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)
Tiết sương giáng lại kề
Trông bạn cũ ta về
Sang lập đông giá rét
Tiết tiểu tuyết, đại tuyết
Trời giá rét lắm thay
Sang đông chí cấy cày
Dạ bồi hồi nhớ bạn
Tiết tiểu hàn chưa dạn
Đã bước sang đại hàn
Dạ tưởng nhớ người ngoan
Vừa năm cùng tháng tận
Vừa cuối mùa cuối tận.
***
Phận lại ngồi trách phận
Phận nỏ giám trách phận
Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

6. Hát ví Nghệ Tĩnh:
Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

1. Hát phường vải:
Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.
Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.
Giai đoạn 1:
Hát dạo

Bấy lâu thức nhắp mơ màng
Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng
*
Bấy lâu nghe hết tiếng nàng
Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng
Nghe tin anh cũng vội mừng
Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang
*
Bấy lâu anh mức chi nhà
Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu
*
Đồn rằng cá uốn thân vây
Đồn em hay hát, hát hay anh tìm
*
Chốn này vui vẻ, tưng bừng
Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi
*
Đêm khuya trời tạnh sương im
Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.
*
Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!
Hình như có khách viễn phương tới nhà
*
Đi qua nghe tiếng em reo,
Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.
*
Đi ngang trước cửa nàng Kiều,
Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu
*
Đi ngang thấy búp hoa đa`o
Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai
*
Đồn đây là chốn Đao` Nguyên
Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi
*
Lạ lùng anh mới tới đây,
Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng
*
Đến đây vàng cũng như son
Ai ai thời cũng như con một nhà

Hát mừng, hát chào

Khi nháy mắt, khi nhện sa
Khi chuột rích trong nhà
Khi khách kêu ngoài ngõ
Tay em đưa go đủng đỉnh
Tay em chìa khoá động đào
Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen
*
Mừng rằng bạn đến chơi nhà
Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

Hát hỏi

Em có chồng rồi, em nói rằng chưa
Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh
*
Em chưa có chồng, em mới đến đây
Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà

Giai đoạn 2:
Hát đố và hát đối

Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng
*
Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,
Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây
Hai ta tình nặng nghĩa dày,
Đối ra đáp được, lúc này tính sao?
*
– Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
-Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời
*
– Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
– Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay.
*
– Nghe tin anh hoc có tài
Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?
– Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra
Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!
*
– Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng
Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?
– Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong
Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?
*
Nghe anh bôn tẩu bấy lâu
Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?
– Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu
Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi
Cầu danh, cầu lợi, cầu tài
Cầu cho đây đó làm hai giao hoà
*
Nhớ em nhất nhật một ngày
Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông
– Chờ em nửa tháng ni rồi
Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng
*
– Nghe tin anh giỏi, anh tài
Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?
– Thiên thai là của nàng Kiều
Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

 


Previous Older Entries

ĐBH

free counters