Cây chè trong thư tịch cổ Việt Nam

Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây chè là Thea sinensis, xác định cây chè có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây chè là ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây chè đã kéo dài trên hai thế kỷ.
Năm 1951 Đào Thừa Trân, một học giả Trung Quốc, đã sắp xếp các cuộc tranh luận đó thành 4 học thuyết: thuyết Trung Quốc, thuyết ấn Độ, thuyết hai nguồn gốc và thuyết chiết trung (đứng giữa).
Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng chè cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Namlà quê hương cây chè trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:
Camellia – chè Việt Nam – chè Vân Nam lá to -chè Trung Quốc – chè ấn Độ.

Hình ảnh: Cuốn Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn

Để tìm hiểu thêm về lịch sử phát triển của cây chè ở Việt Nam, xin giới thiệu dưới đây một số tư liệu trong thư tịch cổ Việt Nam:

– Vân Đài loại ngữ của nhà bác học Lê Quý Đôn – 1773 (Nhà xuất bản Văn hóa – 1962)

– Nghề nông cổ truyền qua thư tịch Hán Nôm của Vũ Tuấn Sán và Nguyễn Đổng Chi (Nhà xuất bản Giáo dục – 1994)

– Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839).

1. Trong Vân Đài loại ngữ có ghi ở Mục IX – Phẩm vật (300 điều):
Điều 127:… Sách Trà Kinh nói: “Chè là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành), hoa như hoa tường vi trắng, quả như quả tinh biền lư, nhị như nhị đinh hương, vị rất hàn”.
Điều 128: Sách Quảng bác vật chí nói: Cao Lư là tên một thứ chè, lá to, mà nhị nhỏ, người Nam dùng nó để uống.
Trà Kinh của Lục Vũ đời Đường nói: “Qua lô ở phương Nam cũng tựa như dính (chè) mà nhị đắng. Người ta lấy pha nước uống, thì suốt đêm không ngủ được. Giao Châu và Quảng Châu rất quý chè ấy, mỗi khi có khách đến chơi thì pha mời. Đào Hoàng Cảnh nói Thiền Khê xử sỹ cũng khen chè ấy là ngon”.
Điều 129: Lý Thì (Thời) Trân nói: “Cao lô không phải là chè, cho một phiến to vào ấm pha thì vị rất đắng, mà pha một ít thì ngọt, ngậm mà nuốt dần thì thấy nhuận cổ”.
Sách Nghiêm Bắc tạp chí, dẫn lời nói của quan học sĩ Lý Trọng Tân nói: “Chè ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay nóng, tên là chè đắng (đắng)”.
Nay xét mấy ngọn núi Am thiền, Am giới và Am các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đều sản xuất thứ chè ấy, mọc xanh om đầy rừng. Thổ dân hái lá chè đem về, giã nát ra, phơi trong râm, khi khô, đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên.
Có một làng tên là Vân Trai, giáp Bạng Thượng chuyên làm nghề chè giã nát để bán, gọi là chè Bạng. Chè sản xuất ở các làng sau này, đều là thứ chè ngon: làng Đồng Lạc thuộc huyện Kim Hoa, làng Đông Quy huyện Đông Ngân, làng Tuy Lai và Thượng Lâm huyện Chương Đức, làng Lệ Mỹ, An Đạo huyện Phù Khang.

Hình ảnh: Cây chè cổ ở Suối Giàng

2. Trong Nghề nông cổ truyền qua thư tịch Hán Nôm, có ghi khá chi tiết về kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch, tiêu thụ:

Chọn địa điểm dốc thoai thoải để thoát nước, đất tổ sâu hoặc đất cát pha càng tốt; thiết kế vườn chè hàng rào, mỗi hàng đào thành một cái rãnh; cày xáo lòng rãnh sâu đến 5 – 6 tấc, rộng ra 6 – 7 tấc để rễ chè ăn sâu; hái hạt giống chè vào tháng 9, chăng dây thẳng hàng, cách 2 thước là 1 hàng, cách 8 tấc đào một lỗ, nông chừng 5 phân, bỏ xuống 2 hạt; bón phân khi gieo hạt, đất 1 phần, phân 2 phần (phân người, phân tầm, phân lợn, phân trâu bò lẫn với tro hoặc lá mục), đảo đều bón xuống rãnh, rồi lấp bằng lại; chống hạn bằng tro trộn với đất bột bỏ nhẹ lên trên hạt chè, để che ánh nắng mặt trời, không được nén mạnh, lại lấy đất vụn cành phủ lên trên; chăm sóc vườn chè non: dùng nước tưới, sớm tối mỗi buổi chiều một lần, hễ thấy sống là được; mùa hạ trời khô hạn, cứ theo giữa hai hàng mà bừa để khơi mạch ẩm, làm mát rễ cây, thì cây chè không đến nỗi chết khô, 4 phía dưới gốc cây chè, nên thường xuyên làm sạch cỏ, dùng lá cây hoặc cỏ tranh, hay rạ phủ lên, thì tự nó sẽ tốt xum xuê; cắt (đốn) chè chỗ nhánh hai nhánh ba, thân trừ lại 6 – 7 tấc, cành 1,5 tấc, cả năm cắt 2 lần, mỗi gốc giá rẻ cũng được 2 xu; cắt hái cành lá cả năm bán 2 lần, mỗi lần cũng được 4 xu, nếu hái nụ cũng được 5 xu, hạt giống giá bình thường mỗi gốc cũng được 5 xu, cả năm mỗi gốc tiền lời cũng được 14 xu; sau 16 năm gốc chè giống ấy không thể dùng được nữa, dùng dao cắt bằng, về sau chè có sức nảy mầm nhiều gấp 10 lần, vị chè lại rất ngon, cả năm hái bán 2 lần, tiền lời mỗi gốc được 15 xu; vườn chè 4 mẫu, trồng được 55.444 gốc, hàng năm tiền hoa lợi trên 1.100 đồng, chè giống 4.228 gốc hàng năm hoa lợi cũng đến trên dưới 500 đồng.

3. Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) trong Vũ Trung tùy bút đã viết “Cách uống chè”:

“Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng đương lúc thịnh đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén phí tổn đến vài mươi lạng bạc… Kẻ thì ưa thanh cao, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền mua sẵn cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho kiểu ấm chén mới lạ… Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn làng thơ cùng làm chủ khách, mà ung dung pha ấm chè thưởng thức thì tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục… Lò, siêu, ấm, chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng… hỏa lò từ Tô Châu, than tàu đem sang bên ta bán”.

Qua các tư liệu trên thì thấy:

Công nhân thu hái chè

1. Tại vùng Thanh Hóa, ven biển miền trung, người Kinh đã trồng chè xanh ở hộ gia đình; kỹ thuật canh tác khá tiến bộ vẫn còn giá trị đến ngày nay: thiết kế trồng chè hàng rào, bón phân lót bằng phân hữu cơ nhà nông và bón phân nhử mầm, tủ gốc chống hạn, tưới chè khi khô hạn, đốn chè, hái và bảo quản hạt giống…, nhưng chủ yếu chỉ mới uống chè tươi, hay chè chế biến đơn giản (băm giã, ủ, phơi khô), nhưng vẫn có làng nghề chuyên làm chè Bạng nổi tiếng: tiêu thụchè hàng hóa phát triển và phổ biến tại chợ nông thôn và thành thị.

2. Không thấy nói đến vùng chè cổ thụ kiểu chè rừng miền núi phía bắc của đồng bào dân tộc Dao, Mông và Tày, tuy vẫn có nghề buôn chè về xuôi từ mạn ngược, như câu ca dao Bắc Bộ: “Chồng tôi thường ngược sông Ngâu, mua chè Mạn Hảo tháng sau thì về” (Nguyễn Tất Thứ – 1972).

3. Thị hiếu và tập quán uống chè khác nhau tùy theo tầng lớp xã hội và từng thời đại lịch sử.

Người nông dân lao động uống chè tươi, như ở vùng Thanh – Nghệ tại tổ vần công, đổi công, buổi sáng sớm hò nhau: “Bớ xóm! Sang uống chè”. Họ thích uống chè đặc cắm tăm trong bát đàn, hút thuốc lào, ăn khoai luộc rồi mới vác cày ra đồng. Miền bắc thì có những túp lều quán đơn sơ, chỉ là một cái mái lá, dựng trên 4 cọc tre và 3 tấm phên lửng quây 3 phía, với hình ảnh bà mẹ già chít khăn mỏ quạ, miệng nhai trầu, tại các phiên chợ, bến đò, bán chè tươi, cùng với các lọ kẹo vừng, kẹo bột, kẹo lạc, thuốc lào, thuốc lá, vài quả ổi, quả chuối… trên cái chõng tre.
Giới thượng và trung lưu thành thị thì uống chè Tàu, chè Ô Long, chè Mạn Hảo, chè ướp sen, nhài, sói… theo câu ca dao ở kinh đô Thăng Long: “Làm trai biếtđánh tổ tôm. Uống chè Mạn Hảo ngâm nôm Thúy Kiều”. Cách uống cầu kỳ, tinh tế ở kinh đô Thăng Long, được lưu truyền qua những buổi trà dư tửu hậu, tửu sáng trà trưa, rượu ngâm nga trà liền tay, vừa uống chè vừa ngâm thơ, với bộ đồ trà đắt tiền gồm 4 chén quân và 1 chén tống để chuyên trà; trà cụ kén các loại ấm trà da nâu như “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”, chè thì mua những gói chè “củ ấu” chính hiệu Chính Thái, Ninh Thái ở phố khách (Hoa kiều).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

ĐBH

free counters

%d bloggers like this: