Đô Lương – Mảnh đất văn hoá, lịch sử.

Lịch sử Đô Lương gắn chặt với lịch sử Nghệ An, xứ sở mà bao đời nay thường được gọi là “Phên dậu”, là “Thánh địa”, là “đất đứng chân”… của các anh hùng, hào kiệt trong các cuộc cầm bình giữ nước. Chỉ tính từ thế kỷ XV đến nay, không có cuộc đấu tranh nào của nhân dân Nghệ An lại không có sự đóng góp to lớn về nhiều mặt của nhân dân Đô Lương từ các cuộc đấu tranh chống xâm lược phương Bắc như trận Bồ Đằng, Trà Lân của Lê Lợi chống quân Minh; cuộc khởi nghĩa “áo vải, cờ đào” của Quang Trung – Nguyễn Huệ chống quân Thanh; cuộc khởi nghĩa chống phong kiến Lê Duy Mật đến phong trào yêu nước Văn Thân, Cần Vương chống Pháp và phong trào Đông Du tìm đường cứu nước.

Trong suốt trường kỳ lịch sử phát triển của Đô Lương phải kể đến công lao của một danh tướng, lương thần của Vương Triều L‎ý – Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Chính sử có ghi chép Lý Nhật Quang là Hoàng Tử thứ 8 của Vua Lý Thái Tổ. Ông được tôn là “một danh nhân lịch sử đã có cống hiến to lớn và việc ổn định và phát triển xã hội Việt Nam, trước hết là vùng đất Nghệ An vào những thập niên đầu của Vương triều Lý”. Đối với huyện Đô Lương, Lý Nhật Quang đã có công lớn trong việc khuyến khích nhân dân trồng lúa, nuôi tằm, dệt lụa, nuôi nhiều trâu, bò, ngựa… động viên nhân dân vùng ven sông ven biển đóng tàu thuyền phát triển nghề đánh bắt thuỷ hải sản, lưu thông buôn bán giữa các miền trong vùng. Ông còn chú ý đến đời sống văn hoá tinh thần của người dân bằng cách cho tu sửa, xây dựng nhiều đền chùa. Ngày nay, xứ Nghệ đã có trên 30 đền thờ Lý Nhật Quang, phụng ông làm Thành Hoàng, trong đó có đền Quả Sơn – Vùng Bạch Đường (Nay là xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương), nơi đã từng là tỉnh lỵ sở trấn trị của Lý Nhật Quang và cũng là nơi ông mất.

“Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Triêu Trưng”

Đền Quả Sơn từ xưa đến nay được coi là một trong bốn ngôi đền lớn của xứ Nghệ và được tôn là “Anh linh đệ nhất từ”. Đền được xếp vào hạng mục công trình “Quốc tế, quốc tạo”. Các triều đại phong kiến Trần, Lê, Nguyễn… đã nhiều lần sắc phong cho đền. Đầu thế kỷ XX, đền Quả Sơn đã trở thành một quần thể to lớn gồm 7 toà 40 gian theo kiểu kiến trúc thời Lý – Trần và được Bộ Văn Hoá – Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử – Văn hoá cấp Quốc gia.

Mảnh đất Đô Lương còn nổi tiếng bởi những đặc sản như vải Thanh Lưu, nhãn Khả Quan, bưởi Lương Sơn đã được lưu truyền trong dân gian:

“Muốn ăn khoai sọ chấm đường
Xuống đây mà ngược đò Lường cùng anh
Đò Lường bến nước trong xanh
Gạo ngon, lụa tốt bến thành ngược xuôi”

Đô Lương cũng là vùng đất có truyền thống lâu đời về nghề thủ công và buôn bán. Theo sử sách ghi lại từ đời Lý, Đô Lương và Bạch Ngọc là thị trấn của Nghệ An nổi tiếng đô hội phù trú. Đồ gốm xuất hiện khá sớm và nổi danh như nồi đất ở Trù Ú (Trù Sơn), gạch ngói ở Phượng Kỷ (Đà Sơn). Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa từ lâu đã nổi tiếng, là niềm tự hào của Đô Lương:

“Đô Lương dệt gấm thêu hoa,
Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời”

Bên cạnh đó, Đô Lương còn có các nghề như mộc, rèn, đan lát, mây tre, làm đá. Các nghề thủ công ở Đô Lương đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của nhân dân và sự tiến bộ của vùng.

Từ lâu đời, Đô Lương đã có tiếng là nơi hiếu học. Nhiều tên đất, tên làng, tên núi như Văn Khuê, Văn Lâm, Văn Trường, “núi Bút, ngọn Nghiên, hòn Mực” thể hiện thái độ trân trọng của nhân dân đối với việc học hành, khoa cử. Nhiều gia đình tuy nghèo nhưng vẫn tìm cách cho con ăn học. Vì vậy, ở Đô Lương, các nhà nho, những người có học vấn không phải chỉ xuất thân từ gia đình giàu có. Các bậc nho sĩ, khoa bảng ở đây đều hay chữ nghĩa, thích văn thơ, khẳng khái, hào hiệp và trọng nghĩa khí. Do đó, khi đất nước bị nạn ngoại xâm, phần lớn họ đều hăng hái tham gia, chống giặc cứu nước. Khi bị bắt ép làm những việc phi nhân đức, dù làm quan đầy quyền lực và bổng lộc nhưng nhiều người đã sẵn sàng treo ấn từ quan trở về quê dạy học hay làm nghề bốc thuốc cứu người như Tiến sĩ Đặng Minh Bích ở Lam Sơn, tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành ở Đông Sơn…

Cùng với sự vươn lên không ngừng của đất nước, Đô Lương cũng ngày càng thay da đổi thịt, trở thành một vùng quê trù phú và giàu đẹp. Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 xây dựng thị trấn Đô Lương trở thành thị xã, huyện Đô Lương đã có kế hoạch mở rộng thị trấn ra 6 xã lân cận là Tràng Sơn, Đông Sơn, Lưu Sơn, Đà Sơn và Yên Sơn với tổng diện tích là 425 ha. Ngoài ra, huyện còn tập trung phát triển mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, 8 lưới điện, hệ thống thoát nước, công viên cây xanh vỉa hè, các trung tâm dịch vụ tổng hợp.


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

ĐBH

free counters

%d bloggers like this: