Cố Bợ – một hiện tượng văn hoá – văn học dân gian ở Nghệ Tĩnh

ThS. Nguyễn Thị Thanh Trâm Tìm hiểu những hiện tượng văn hóa – văn học dân gian độc đáo có ý nghĩa rất lớn trong việc làm nổi bật bản sắc văn hoá của một địa phương, một dân tộc. Nghệ Tĩnh từ lâu đã được khẳng định là một vùng văn hóa truyền thống nổi tiếng có nhiều giá trị văn hóa dân gian đặc sắc như dân ca hát ví, hát dặm, kể vè, nói trạng… ở bài viết này, chúng tôi muốn giới thiệu thêm một hiện tượng văn hóa – văn học dân gian hết sức độc đáo “chỉ có ở Nghệ Tĩnh” mà hiện nay còn ít người biết đến: hiện tượng Cố Bợ.

Thực ra, từ những thập kỉ 80, 90 của thế kỉ trước, những sưu tầm truyện kể về hiện tượng độc đáo này đã được giới thiệu trong hai cuốn Cố Bợ (Võ Văn Trực, Nxb Nghệ Tĩnh, 1988) và Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (GS. Ninh Viết Giao, Nxb Nghệ An, năm 1994)(*). Nhưng một công trình tập trung nghiên cứu về hiện tượng Cố Bợ thì hóa ra chưa hề có. Thế mà, những nhà nghiên cứu danh tiếng như cố GS. Đặng Thai Mai, Cao Huy Đỉnh đã từng chạm đến truyện Cố Bợ đều khẳng định đây thực là một hiện tượng độc đáo của văn học dân gian Nghệ Tĩnh. Điều đó đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về hiện tượng này. Và quả thực, càng đi sâu tìm hiểu chúng tôi càng thấy sự phức tạp của vấn đề. Phải chăng đây là lí do của sự thiếu hụt một công trình nghiên cứu chuyên biệt về hiện tượng này mà lẽ ra đã phải có từ lâu rồi mới phải. Nhưng chính sự phức tạp đó mới làm nên tính độc đáo vô song của hiện tượng Cố Bợ, mà để làm sáng tỏ vấn đề cần thiết phải được triển khai trong một chuyên luận công phu. Tuy nhiên, trong giới hạn bài viết này, chúng tôi chưa có điều kiện trình bày tất cả kết quả nghiên cứu mà chỉ mới giới thiệu khái quát đặc điểm diện mạo để người đọc có thể hình dung được tính “đa diện”, phức tạp của hiện tượng văn hóa – văn học dân gian độc đáo này.

Cố Bợ là tên của một nhân vật có lẽ xuất hiện từ xa xưa ở Nghệ Tĩnh. Chỉ riêng tên gọi đã gợi lên tính chất Nghệ (“Cố” là từ địa phương người Nghệ Tĩnh dùng để xưng hô với người già, tương đương với từ “cụ” trong tiếng phổ thông). Nhân vật này gắn liền với tín ngưỡng dân gian, cùng với nó là một số lễ thức tín ngưỡng – tôn giáo và một hệ thống truyện kể dân gian được lưu truyền rộng rãi trong bộ phận người Kinh cư trú dọc đồng bằng ven biển Nghệ Tĩnh. Điểm độc đáo ở hiện tượng này là, nhân vật có sức sống hết sức mạnh mẽ, luôn được gắn vào đời sống sinh hoạt hàng ngày và những hiện tượng thiên nhiên, xã hội cụ thể qua nhiều thời kì lịch sử. Vì vậy, hình tượng luôn vận động, biến đổi, tạo ra tính chất “đa diện” và ý nghĩa phong phú trong đời sống văn hoá của nhân dân.

1. Cố Bợ – biểu tượng huyền thoại về ngọn lửa

Có thể thấy, lửa là một trong những hiện tượng tự nhiên có sức mạnh ghê gớm, có tính năng hai mặt và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người. Khi con người chưa đủ trình độ để lý giải và chinh phục tự nhiên, họ đã sợ hãi trước sức mạnh phá hủy ghê gớm của ngọn lửa tự nhiên hoang dã, có thể đốt cháy rừng cây, nhà cửa, thiêu cháy con người và muôn loài. Nhưng khi con người đã khống chế và biết lợi dụng lửa, thì mặt khác, ngọn lửa trở thành một vật thiêng đem lại ánh sáng, sự ấm áp và những điều kỳ diệu. Vì thế, từ xa xưa, con người đã tôn thờ và thần thánh hóa ngọn lửa thành một vị thần: thần Lửa. Cùng với tín ngưỡng thờ lửa là những nghi lễ cầu cúng và những biểu tượng huyền thoại về ngọn lửa phổ biến khắp thế giới. Agni – thần Lửa trở thành một trong ba vị thần quan trọng nhất trong hệ thống tôn giáo Bàlamôn, và hành năm, người ấn Độ tổ chức nghi lễ hiến tế rất linh đình. Trong thần thoại Hylạp, Prométheus ăn cắp ngọn lửa từ lò rèn của thần Hephaixtots mang về cho con người, vì thế ngày nay người Hy Lạp vẫn thờ ngọn lửa thiêng – ngọn lửa Prométheus. Trong huyền thoại của Polinesia, Maui lấy được ngọn lửa từ mụ già dưới âm phủ. Ngọn lửa của người Bana là do thần lửa Mơ Sao ăn trộm lửa của trời mang về. Trong mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường, anh chàng Tun Mun lấy cắp lửa và phương pháp làm ra lửa từ ông già Tà Cắm Cọt ở mường trời… Với người Việt, tín ngưỡng thờ Lửa vẫn còn được lưu giữ trong phong tục thờ cúng Vua Bếp, trong hình thức thờ nhang nến, hương đèn trên bàn thờ tổ tiên, trong lễ thức “hóa vàng” kèm theo các nghi lễ cúng bái, trong nghi thức hôn nhân, sinh sản hay những thói quen kiêng kị xung quanh lửa và bếp lửa ngày nay vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam… Trong truyện kể dân gian của người Việt còn lưu giữ mẩu kể về Bà Hoả và Thằng Lửa – những biểu tượng huyền thoại về ngọn lửa.

Trong truyện kể dân gian xứ Nghệ, Cố Bợ trước hết là hình ảnh người anh hùng văn hóa, vị thần đã lấy trộm lửa từ mặt trời về cho con người, chấm dứt thời kỳ “chưa có lửa” và mở ra một thời đại mới – thời đại văn hóa lửa. Đó là hình ảnh hồi cố, là tia hồi quang của việc tìm ra lửa và biết sử dụng lửa – một sự kiện lịch sử vĩ đại trong quá trình chinh phục tự nhiên và sáng tạo văn hóa của loài người. Theo các tài liệu khảo cổ, các nhà khoa học cho rằng lửa được con người sử dụng để nấu chín thức ăn từ rất sớm, vào khoảng giai đoạn trung kỳ đến hậu kỳ đá mới (1). Biểu tượng huyền thoại về ngọn lửa này có lẽ cũng ra đời từ rất sớm, thuộc thời đại thần thoại sáng tạo.

Hình ảnh Cố Bợ đi lấy lửa mặt trời được miêu tả thật kì vĩ, lãng mạn: Cố Bợ “ngả nón làm thuyền, bẻ cành cây làm chèo, chèo thẳng về phía mặt trời mọc”. Hình ảnh này gợi nhớ đến chuyện ông Khổng Lồ – tổ sư nghề đúc đồng của người Việt ngả nón làm thuyền vượt biển Đông, mang theo tay nải chứa cả kho đồng xuôi về phương Nam. Huyền thoại quanh lèn Hai Vai ở Diễn Châu còn có vị thần Sò được miêu tả là “ngư ông mang tơi đội nón, lật vỏ sò làm thuyền, chèo bơi trong dòng nước xoáy để cứu nhân dân khỏi nạn lũ” (2). Những nhân vật thần thoại này làm những “công việc” khổng lồ nhưng chỉ với phương tiện thật thô giản, không có ánh hào quang của phép mầu nhiệm thần kì như trong thần thoại Hy Lạp. Hình ảnh này phản ánh cuộc sống lao động vất vả, cực nhọc với công cụ thô sơ nhưng phơi phới tinh thần lãng mạn trong công cuộc chinh phục tự nhiên và sáng tạo văn hóa của nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng, người Việt nói chung.

Trong kho tàng thần thoại của người Việt còn lại ngày nay, chúng ta không thấy xuất hiện motif lấy trộm lửa từ kẻ canh giữ ban đầu. Chúng tôi có thể đặt ra giả thiết rằng, phải chăng motif Cố Bợ lấy trộm lửa từ mặt trời đem về cho loài người là của chung người Việt cổ, mà người Nghệ hiện nay còn lưu giữ được? Sở dĩ chúng tôi mạnh dạn đặt ra giả thiết trên là bởi đây là một hình tượng thần thoại cổ đại mang ý nghĩa biểu trưng cao. Nó là tiếng dội của một sự kiện lịch sử vĩ đại mang tầm nhân loại phổ quát, là sự dồn nén của cả quá trình lịch sử lâu dài con người không ngừng lao động chinh phục tự nhiên và sáng tạo văn hóa. Mặt khác, vì tính chất cổ xưa của nó mà lớp nghĩa này dần mờ nhạt và có một “khoảng cách” khá xa với những cốt kể về sau.

Về sau, nhân vật này được gắn với một hiện tượng thiên nhiên cụ thể ở Nghệ Tĩnh: hiện tượng gió Nam Lào. Những đợt “nam cào nam cuốc” như những cơn “bão lửa” gây ra hiện tượng tự nhiên cháy nhà hàng loạt ở Nghệ Tĩnh vào mùa hè đã được nhân dân hình dung là thần Lửa mang lửa nhà trời về đốt cháy nhà cửa xóm làng. Nhân dân kể rằng: “Cố Bợ sẵn lửa trong người, nên đến mùa nam nắng thường hay đốt nhà để xem cho thích. Khi ngọn lửa xanh bốc lên, từ đâu đó có tiếng cười ròn rã, tiếng vỗ tay đôm đốp” (Lại thằng Bợ rồi). Không rõ hình ảnh này xuất hiện từ bao giờ nhưng cho đến mãi sau này, nó vẫn sống trong niềm tin tín ngưỡng và trong trí tưởng tượng của nhân dân. Có thể lý giải điều này từ sức nóng, sức tàn phá và những ấn tượng khủng khiếp mà gió Lào đã gây ra. Vì thế, hiện tượng thiên nhiên này đã được thần thánh hóa, biểu tượng hóa thành một vị thần.

Vẫn là ngọn lửa nhưng đã mang cơ sở hiện thực cụ thể, gắn với một hiện tượng khí hậu độc đáo của địa phương. Không phải ngẫu nhiên mà trong quá trình điền dã, chúng tôi nhận thấy truyện Cố Bợ đốt nhà được kể rôm rả nhất ở những huyện phía nam Nghệ An và bắc Hà Tĩnh – vùng “lòng chảo lửa” của gió Lào. Cũng bởi gắn với một đặc điểm khí hậu đặc biệt của địa phương nên hiện tượng Cố Bợ “hết sức nổi tiếng ở Nghệ Tĩnh và chỉ có ở Nghệ Tĩnh thôi” (Đặng Thai Mai).

Phải chăng cũng bởi gắn với hiện tượng gió Lào và nạn cháy nhà xảy ra cả vào thời kỳ lịch sử muộn về sau, mà vị thần này “hoạt động” trong một không gian thôn quê gần gũi và khá hiện thực. Cố Bợ không còn là một vị thần khổng lồ mang tầm vóc vũ trụ thuở hồng hoang mà được hình dung là “một ông già mặc khố đỏ, đầu chít khăn đỏ, da ngăm ngăm đen”, vui tính, nghịch ngợm, gần gũi như những ông già nông dân xứ Nghệ (phải chăng vì vậy mà được gọi là Cố?). Nhân dân Nghệ Tĩnh còn lưu truyền câu ca dao về “ông già” này mà trong quá trình điền dã chúng tôi đã sưu tầm được:

Không về nhớ mẹ thương cha
Về thì cháy cửa cháy nhà thương dân
(Chép theo lời của ông Trần Đình Khai, 76 tuổi, thôn 12, xóm Bắc Hải, làng Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.)

Lúc đầu, nhân dân giải thích việc đốt nhà của Cố chỉ là do vui, thích – cái kiểu “vô căn” của người Nghệ: “Cố nói không có chi vui bằng xem cháy nhà”. Khi ngọn lửa bốc lên, Cố Bợ leo tít lên ngọn cây nhìn xuống thích thú xem cháy nhà, cười khanh khách và vỗ tay đôm đốp. Một hiện tượng thiên tai không kém phần khủng khiếp lại đi vào truyện kể đầy hình ảnh vui tươi dí dỏm và âm vang tiếng cười sảng khoái, vui nhộn. Phải chăng, điều này chỉ có thể lý giải ở tinh thần lạc quan đặc biệt và tính cách tinh nghịch dí dỏm của người Nghệ? Phải chăng, tiếng cười là cách lựa chọn của người Nghệ nhằm hóa giải những mất mát khổ đau trong cuộc sống mà đối với họ đã trở nên quá quen thuộc?

Dần về sau, người ta đã lồng vào những nội dung đạo đức – xã hội, cho rằng Cố Bợ thường chỉ đốt nhà “bọn nhà giàu hư hốt” (chữ dùng của Đặng Thai Mai) hay những nhà nào “ăn ở có điều sơ suất” (chữ dùng của Võ Văn Trực). Vì thế, mỗi lần cháy nhà, người dân tin rằng do mình đã làm điều gì sai trái nên bị Cố Bợ trừng phạt. Từ tâm lí tin – sợ – cầu đã nảy sinh những nghi thức cầu cúng. Vè làng Hậu Luật còn ghi lại một tập tục phổ biến của người Nghệ vào thời cận đại: mỗi khi bị cháy nhà, chủ nhà lấy nước, têm trầu mời Cố Bợ để mong Cố tha tội và nương nhẹ sự trừng phạt:

Lửa lên rần rật
Cố Bợ ngồi cười
Tiếng Cố vang trời
Kêu giòn răng rắc
…Tôi xin Cố Bợ
Uống nước ăn trù
Con đần con ngu
Cố cho tha tội!…
(Chữa cháy nhà ông Xã Nhự)

Có thể xem đây là một hình thức biểu hiện thô giản mang tính chất tự nhiên của nghi lễ thờ cúng thường đi kèm tín ngưỡng. Cũng như mọi ông thần ở Việt Nam, Cố Bợ trở thành một lực lượng lương tri vô hình điều chỉnh hành vi đạo đức của con người trong ứng xử tâm linh của người Nghệ. Không chỉ gắn với hiện tượng cháy nhà, nhân vật này còn hiện diện là vị thần tiên tri với quyền uy ban thưởng và trừng phạt trong niềm tin của nhân dân, giống như nhân vật Bụt, Tiên, Ngọc Hoàng… trong truyện cổ tích thần kỳ. Theo tài liệu ghi chép của nhà văn Võ Văn Trực thì trước năm 1945, hình ảnh Cố Bợ còn được người Nghệ vận dụng trong nhiều trường hợp giáo dục, răn đe con trẻ, hay trở thành một hình thức “hù dọa” bọn nhà giàu – những kẻ “ăn trên ngồi trốc” trong làng xã và những thói hư tật xấu trong đời sống nhân dân. Như vậy, từ biểu tượng của một hiện tượng thiên tai, Cố Bợ đã mang ý nghĩa đấu tranh xã hội, phản ánh những nét đặc trưng trong đời sống văn hóa làng xã cũng như quan niệm đạo đức, thẩm mỹ của nhân dân xứ Nghệ trước cách mạng tháng Tám.

2.Hình tượng Cố Bợ trên con đường biến diễn chịu ảnh hư¬ởng của Đạo giáo và Tín ngưỡng ma quỷ

Tín ngưỡng ma quỷ là tín ngưỡng cổ truyền, có nguồn gốc từ quan niệm vạn vật hữu linh. Ma/quỷ thực ra là một dạng khác của thần (Ma lành là thần, ác thần là ma, người miền núi ở Việt Nam gọi thần Thành Hoàng là ma làng). Khi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra đời thì xuất hiện một loại ma/quỷ là linh hồn của những người chết thiêng hoặc những người chết vô thừa nhận, linh hồn không trở về được thế giới bên kia (âm phủ) thường lởn vởn ở trần gian quấy nhiễu người sống. Từ chỗ tin vào mối liên hệ và ảnh hưởng siêu hình giữa con người và các thế lực tự nhiên, thần thánh, ma quỷ, con người đã sùng bái ma thuật. Tín ngưỡng ma thuật là cơ sở để Đạo giáo (một tôn giáo ngoại lai, phát sinh từ phong trào nông dân Trung Quốc từ thế kỉ II sau Công nguyên) khi vào nước ta nhanh chóng hòa nhập vào tín ngưỡng bản địa tới mức không còn ranh giới. ở Nghệ Tĩnh, Đạo giáo cũng thâm nhập từ sớm và phát triển mạnh. Nguyễn Đức Huyền người làng Tả Ao giỏi nhất nước Nam về thuật phong thủy được phong là Địa Tiên. Nhiều điện thờ của Đạo giáo như điện thờ chúa Liễu Hạnh, đền Tứ Vị, đền Đức Thánh Cả,… mọc lên ở nhiều nơi. Các thuật phù thủy, đồng bóng, bùa chú cũng phát triển rất mạnh trong đời sống sinh hoạt của nhân dân.

Tín ngưỡng ma quỷ và Đạo giáo đã biến Cố Bợ từ một vị thần Lửa thành một dạng ma/quỷ, là linh hồn của những người chết thiêng trong quan niệm của nhân dân. Tài liệu của Landes còn ghi lại quan niệm cho Bợ là người làng Cương Gián (Nghi Xuân), chết vào giờ ngọ ngày mồng năm, tháng năm, hóa quỷ (3). Trong quá trình điền dã ở vùng Yên Thành, Nghi Lộc (Nghệ An), chúng tôi thấy một quan niệm khá phổ biến trong dân gian cho Bợ là ma chết cháy (?). Nhân dân còn kể chuyện có người bị ma Bợ ám phải nhờ Đức Thánh Trần (vị thánh trong điện Tứ Phủ của Đạo giáo) làm bùa phép giải trừ tà ma. Hoặc có hiện tượng dân gian đồng nhất ma Bợ với quỷ Phạm Nhan, một loại quỷ thường hay quấy nhiễu các bà mẹ mang thai làm cho “hữu sinh vô dưỡng”. ở Nghệ Tĩnh trước năm 1945 vẫn tồn tại phổ biến các hình thức ma thuật, phù chú để trừ ma/quỷ Bợ đốt nhà, quấy phá,… Như vậy, rõ ràng tín ngưỡng ma quỷ và Đạo giáo phù thủy đã ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của nhân dân về “nhân vật” Cố Bợ, biến thần Lửa – sản phẩm của tư duy hồn nhiên thần thoại thành ma/quỷ – linh hồn của người chết thiêng mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo, cùng với nó là những nghi lễ ma thuật không tránh khỏi ít nhiều có tính chất mê tín.

Tín ngưỡng và các hình thức nghi lễ trong quan niệm và đời sống nhân dân có ảnh hưởng nhất định đến truyện kể. Bản kể của Ninh Viết Giao cho rằng: Bợ sau khi có công lấy lửa cho con người được Ngọc Hoàng Thượng Đế cho lên trời làm một chức quan nhỏ ở chốn Thiên cung, nhưng vì nghịch ngợm quấy phá nên bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian, đầu thai vào một nhà nông dân tại vùng Sa Nam cũ, bây giờ là xã Thanh Thủy, huyện Nam Đàn. Lớn lên, Bợ cũng được bố mẹ dựng vợ cho… Sau khi chết thành ma nghịch ngợm quấy phá cả thần thánh… Chi tiết này không thấy xuất hiện ở những bản kể khác. Dễ thấy đó là kết quả nhào nặn của Đạo giáo vào đời sau, nhằm gán cho nhân vật một “lai lịch” và dùng tín ngưỡng đầu thai để nối kết một cách có vẻ hợp lý motif thần thoại cổ đại với những motif đời sau, biến một vị thần Lửa – anh hùng văn hóa thành ma/quỷ.

Các trò ma thuật, bùa phép trừ tà ma, chữa bệnh của Đạo giáo phù thủy cũng đi vào truyện kể rất sống động và tươi mới. Những cuộc đọ sức, đấu phép giữa ma Bợ và các vị thần, thầy phù thủy trong truyện thực ra là việc “văn học hóa” những trò ma thuật trừ tà ma của thầy pháp, đồng cốt như: đi trên lửa, đi trên lưỡi dao, lưỡi cày nung đỏ,… (Cố Bợ với Đức thánh Thái phó và Mai Hắc Đế, Phú ông, phù thủy và Cố Bợ,…). Trong nhiều truyện như Bụi ruối cánh đồng quỷ, Cốc cốc lai lai,…, tập tục mời thầy phù thủy, thầy cúng về làm phép để trừ tà ma, chữa bệnh cũng được đồ chiếu khá rõ. Trong hệ thống truyện Cố Bợ, chúng ta thấy lặp lại nhiều lần motif “nhốt lọ quẳng sông” (Bợ bị “bắt quyết” (từ trong truyện kể mượn lại thuật ngữ của ma thuật phù thủy) nhốt vào hũ sành thả xuống sông). Motif này bắt nguồn từ bùa phép bắt ma, trừ tà của thuật phù thủy.

Tuy nhiên, giữa tín ngưỡng tôn giáo ngoài cuộc đời và truyện kể có một “độ chênh” nhất định. Chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo, nhưng truyện kể và hình tượng nhân vật không vì thế mà trở nên thần bí. Nhân vật ma/quỷ này khi đi vào truyện kể, trong sự sáng tạo và hư cấu của nhân dân trở nên hết sức gần gũi, dân dã như hình ảnh những con người đời thường. Về cơ bản, “nó” trở thành nhân vật trạng trong truyện trạng hài – hình ảnh những “ông trạng” của làng quê xứ Nghệ. Đó là kết quả của xu hướng “trạng hóa”, thế tục hóa, giải thiêng một biểu tượng huyền thoại (thần/ma/quỷ). (Xu hướng “trạng hóa”, “tục hóa” này rất giống với bộ phận truyện ma ở Nghệ Tĩnh mà chúng tôi sẽ đề cập trong một dịp khác). Dân gian còn sáng tạo những câu chuyện ma Bợ trong vai “ông trạng” nhằm đả kích, phê phán những trò phù thủy bịp bợm và mê tín dị đoan (Bụi ruối cánh đồng quỷ, Cốc cốc lai lai, Mụ phù thủy định ăn quỵt Cố Bợ). Điều này chứng tỏ hình tượng Cố Bợ gắn với tín ngưỡng ma thuật và Đạo giáo vào thời kỳ mà giai cấp thống trị, những kẻ hành nghề tôn giáo đã lợi dụng thần quyền, những trò ma thuật và sự mê tín dị đoan để áp bức, bóc lột nhân dân. Dùng một sản phẩm của tín ngưỡng, tôn giáo để phủ định chính những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo đó, nhân dân đã nhân cách hóa hình tượng Cố Bợ thành “những hệ hướng tinh thần” của chính mình.

Chịu ảnh hưởng của Đạo giáo nhưng Cố Bợ không trở thành một vị thần trong điện thờ Đạo giáo mà là ma quỷ, thế giới linh hồn của những người chết hết sức gần gũi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Rõ ràng, khi từ “thần” đã bị “giáng” xuống làm ma/quỷ thì trong tâm lý nhân dân, tính chất “thiêng” đã giảm bớt (Thần đi với thái độ sùng kính, biết ơn, còn ma, quỷ thường nghịch ngợm, quấy nhiễu nên gắn với thái độ chê trách, quở mắng. Dân gian thường nói “nghịch như quỷ” có lẽ là vì vậy). Một mặt, ma/quỷ trong tín ngưỡng dân gian là những lực lượng siêu hình ảnh hưởng đến cuộc sống con người dẫn đến tâm lý sợ hãi và nghi thức cầu cúng, bùa phép. Nhưng mặt khác, trong trí tưởng tượng hồn nhiên, họ lại hình dung về một thế giới ma/quỷ hết sức gần gũi như cuộc sống của con người.

Chúng tôi cho rằng, từ nhiên thần (thần Lửa) đến ma/quỷ là sự chuyển hóa hợp lí và tự nhiên ở hình tượng Cố Bợ, theo quy luật: “một tín ngưỡng phát triển thì cuốn hút nhiều tín ngưỡng khác” (Phan Ngọc). Đối với người Việt, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất được coi trọng và đặc biệt được giữ gìn. Với họ, người chết chính là những vị thần gần gũi, quý mến hơn là những bậc thần thánh cao siêu khác. Đạo giáo phù thủy khi phát triển ở Việt Nam, đã kết hợp tín ngưỡng dân gian và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của nhân dân. Bằng chứng là hiện tượng các nhân vật lịch sử – văn hóa như Trần Hưng Đạo, Bà Trưng, ỷ Lan trở thành các vị Thánh, nhân vật cổ tích Chữ Đồng Tử thành Ông Tổ của Đạo giáo, cặp rắn thần vốn là biểu tượng thần thoại được tôn làm Quan lớn Tuần Tranh,… Việc Cố Bợ – thần Lửa trở thành ma/quỷ theo chúng tôi là bởi quá trình ảnh hưởng này diễn ra trong giai đoạn về sau, khi mà tính chất thiêng của biểu tượng thần thoại này đã giảm sút trong xu hướng thế tục hóa, và còn bởi tính chất dân gian và tính địa phương rất đậm nét ở hình tượng này.

3. Cố Bợ – “ông trạng” của làng quê xứ Nghệ

Nghệ Tĩnh vốn nổi tiếng là đất nói trạng, kể chuyện trạng. Trong làng trạng Nghệ Tĩnh, có những nhân vật trạng có thật, nổi bật lên với tài trí thông minh, giỏi chữ nghĩa, hài hước nghịch ngợm và đầy bản lĩnh đã đi vào thể loại truyện trạng hài dân gian như Mân Nhụy, Phan Điện, Cố Duồn,… Nhưng ngoài những nhân vật ấy, làng trạng xứ Nghệ còn có rất nhiều những ông trạng vô danh khác là những người nông dân bình thường nhưng bản tính rất nghịch ngợm, hài hước. (Người Nghệ hầu như ai cũng biết nói trạng, kể chuyện trạng, và sẵn sàng trở thành những ông trạng nổi danh trong làng xã). Những buổi trưa hè, những đêm trăng sáng ngồi uống nước chè xanh, những buổi đi làm đồng, những dịp tết nhất giỗ chạp, thậm chí, những lần chữa cháy nhà, cháy cây rơm,… đều là những dịp nở rộ những câu chuyện trạng, truyện cười, tiếu lâm. Trong môi trường “nói trạng”, kể chuyện trạng ấy, Cố Bợ đã được hư cấu thành một nhân vật trạng, hình ảnh tập thể những ông trạng của làng quê Nghệ Tĩnh.

Vốn là một biểu tượng huyền thoại gắn với hiện tượng gió Nam Lào nhưng về sau nhân vật này đã được nhân dân gán ghép đủ thứ chuyện đời thường – những hiện tượng tự nhiên và xã hội khác nhau diễn ra trong đời sống hàng ngày. Những chuyện Cố Bợ nghịch ngợm như ném đá, đi trên dây điện, lấy trộm cỗ cúng của làng, theo các cô gái đi chợ, đi hát phường vải hay trêu chọc các bà góa,… được kể thường xuyên hoặc được lồng vào những câu chuyện trạng rất phổ biến ở các làng quê xứ Nghệ. Hoặc giả có những sự việc diễn ra trong thực tế hàng ngày như đốt cây rơm, đốt nhà, mất cắp gà qué,… cũng thường được nhân dân “đổ tội” cho nhân vật này. Trong sự “gán ghép” đầy lý thú ấy, nhân vật Cố Bợ vừa mang tính huyễn hoặc như hiện tượng ma ném, ma Cà Rồng ở miền Bắc, vừa gần gũi, suồng sã như những người nông dân nghịch ngợm, bướng bỉnh – những “ông trạng” của làng quê xứ Nghệ. Từ môi trường “nói trạng”, kể chuyện trạng đó đã hình thành một nhóm truyện kể có tính chất như thể loại truyện trạng hài dân gian, trong đó Cố Bợ hiện lên vừa là chủ thể của tiếng cười, vừa là một hình tượng hài hước gây cười.

Ở nhiều truyện, Cố Bợ được thể hiện trong mối quan hệ với hệ thống nhân vật đối lập, tương phản thuộc giai cấp thống trị phong kiến và những thế lực giàu có ở nông thôn, hoặc được thể hiện trong mối quan hệ với những thói hư tật xấu có thật trong nội bộ nhân dân. Là chủ thể của tiếng cười phê phán, Cố Bợ là hình ảnh kết tinh tài trí, ý thức đấu tranh và tinh thần dân chủ của nhân dân.

Cố Bợ chúa ghét bọn nhà giàu tham lam hợm hĩnh nên những thế lực quan lại cường hào địa phương là đối tượng quấy phá, trêu chọc của Bợ. Bợ đốt nhà tên bá hộ giàu có, hợm hĩnh, hống hách (Tre pháo nổ mừng xuân làng ta đó), chơi khăm, đốt nhà, bắt lợn của lão Cửu nhà giàu (Khóa rỉ rồi), lập mẹo trêu tức con gái phú ông kiêu căng, hợm mình (Con gái phú ông, Phú ông, phù thủy và Cố Bợ, Cố Bợ đánh đu với cô gái nhà giàu). Tên lý cựu tham lam bẩn tính bị Cố Bợ đốt râu (Tên lý cựu bần tiện). Cố Bợ giăng bẫy khiến thầy đồ keo kiệt, bẩn tính, giả dối phải một phen bẽ mặt (Cố Bợ chơi khăm thầy đồ), giễu nhại, lật tẩy bọn thầy cúng, thầy phù thủy lừa bịp để kiếm chác (Cốc cốc lai lai, Bụi ruối cánh đồng quỷ). Ngỗ ngược và liều lĩnh hơn, Cố “lẻn” vào ngôi chùa ông bá hộ, buộc giây vào tượng Phật kéo đổ ngả nghiêng đúng vào lúc lễ chùa đông đúc sư sãi, người đi lễ đang tụng kinh niệm Phật. “Cố Bợ còn tung hoành, chọc vào mọi lực lượng bí hiểm của thần quyền. Yêu tinh, quỷ quái, tiên phật… Cố đều gây sự và hạ bệ tuốt” (4) (Ngôi miếu hết thiêng, Ngôi chùa ông bá hộ, Bụi ruối cánh đồng quỷ).

Có thể thấy trong những câu chuyện này, sự chiến thắng của nhân vật trạng không phải bằng tài ứng khẩu khoái hoạt, lý lẽ sắc bén, tài dùng chữ, nói chữ như những trạng chữ Trạng Quỳnh, Xiển Ngộ… mà là bằng những hành động ngang tàng, liều lĩnh, táo bạo. Tiếng cười vì vậy không phải là tiếng cười trí tuệ thâm thuý, dí dỏm mà là tiếng cười hả hê, thoả mãn, thách thức. Yếu tố gây cười được tạo nên ở đây cũng không phải bằng biện pháp ngôn ngữ hoặc những xung đột, mâu thuẫn căng thẳng, kịch tính thường thấy ở truyện trạng, mà là ở tính cách nghịch ngợm, táo tợn của nhân vật trạng, ở những hành động “xuất quỷ nhập thần” và yếu tố bất ngờ đối với đối tượng. Tác giả dân gian không chú ý đến việc miêu tả tiến trình hành động của “ông trạng”, mà điều quan tâm hơn cả là kết quả của hành động và tình trạng thất bại của đối tượng. Vì thế, nhân vật trạng thường xuất hiện bất ngờ ở cuối truyện, thiếu vắng những cuộc đối đáp “đôi co” trực tiếp giữa ông trạng và đối tượng phê phán, truyện ít tình tiết, thiếu hẳn những xung đột căng thẳng, gây cấn. Sự tương phản ở đây là, một bên nhân vật trạng đại diện cho nhân dân lao động nghèo khổ nhưng thẳng thắn, ngang tàng yêu chuộng lý tưởng dân chủ và một bên là các thế lực giàu có nhưng bản chất xấu xa, thù địch với nhân dân.

Trong truyện trạng hài Việt Nam hiếm có một kiểu nhân vật trạng như trong truyện Cố Bợ. Nhưng những nét gần gũi với nó ta có thể bắt gặp trong truyện trạng xứ Nghệ như trạng Bờ Ao, trạng Chắt Vặn, trạng Mân Nhuỵ. Cố Bờ Ao không cần viện đến lý lẽ, chỉ dựa vào tài thuật phong thuỷ của mình mà thẳng tay hành động (Bán đất kiếm ăn, Muốn được làm to, làm nậy…). Sự chiến thắng của Chắt Vạn đối với bọn cường hào ác bá chính là nhờ ở tính cách và hành động táo bạo, liều lĩnh đầy thách thức. Mân Nhụy, Phan Điện kết hợp cả hành động và lý lẽ nhưng tiếng chửi ở đây cũng rất thẳng thắn, bốp chát (Chỉ có bọn “đàn bà” mới như thế, Tiên sư điếu thuốc giấy – Truyện Mân Nhụy); Không phải quan bay ạ, Tiểu đại do chi, ắc đê! ắc đê – Truyện Phan Điện). Phải chăng đó chính là sắc thái riêng của “ông trạng” xứ Nghệ mà một số người cho là tính bộc trực? Theo chúng tôi, “ông trạng” trong truyện Cố Bợ là sự phản ánh kiểu tính cách “vô căn”, thẳng thắn đến mức táo bạo, ngang tàng đến liều lĩnh của người nông dân Nghệ. Một mặt, tính cách này hình thành nên tinh thần đấu tranh rất cao ở người Nghệ. Nhưng mặt khác, nó dễ dẫn đến những hành động bột phát liều lĩnh. Trong hành động của ông trạng – Cố Bợ, ít nhiều thể hiện sự phản ứng tự phát nói trên như những hành động: đốt nhà, bắt lợn của bọn nhà giàu (Tre nứa nổ mừng xuân làng ta đó, Khoá rỉ rồi); phá đổ ngôi chùa của ông bá hộ (Ngôi chùa ông bá hộ). Ngoài ra, một số hành động có tính “phá phách” của nhân vật còn phần nào thể hiện tính đố kỵ và tâm lý tiểu nông của người nông dân – một hệ quả của văn hóa làng xã.

Trong những truyện mà đối tượng của tiếng cười là những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân, Cố Bợ là hình ảnh của những người dân Nghệ thẳng thắn, bộc trực, nghịch ngợm, có ý thức phê phán cao nhưng giàu trách nhiệm, tình nghĩa và bao dung. Vì thế, tiếng cười toát lên dí dỏm, trào tiếu, nhẹ nhàng. Truyện kể thấm đẫm tiếng cười và tinh thần phê phán trong môi trường sinh hoạt “đặt vè”, “nói trạng”, kể chuyện trạng mang tính suồng sã, dân chủ ở xứ Nghệ.
Ngoài bộ phận truyện có hệ thống nhân vật đối lập tương phản nói trên, còn có một bộ phận khá nhiều những mẩu truyện, trong đó hình tượng nhân vật hiện ra hết sức đa dạng. Nếu trong quan hệ với nhân vật đối lập tương phản, hành động nghịch ngợm của trạng là hành động có mục đích, nhằm phủ định cái xấu xa, thấp hèn của xã hội, “ông trạng” vì vậy là chủ thể của tiếng cười phê phán thì ở đây Cố Bợ vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của tiếng cười. Đó là một kẻ càn quấy, phá phách, nghịch ngợm, tai quái. “Bợ có tính ngang ngược đòi lấy con gái bất cứ ai, và trêu chọc bất cứ người nào” (5). Bợ đánh tráo thủ lợn của bà Lý cho trẻ chăn trâu, đánh tráo xôi, gà, đồ cúng Thành hoàng của dân, trêu ghẹo đàn bà, con gái (Cố Bợ ghẹo dì Hai, Chỉ biết ăn thôi à), vào hùa với mụ phù thủy để giở trò bịp bợm (Mụ phù thủy định ăn quịt Cố Bợ), trêu chọc các vị thần (Thục An Dương lấy lửa của Cố Bợ, Cố Bợ với Đức thánh Thái phó và Mai Hắc Đế). Trong sự “sáng tạo lại” của những tay kể chuyện trạng, Cố Bợ được xây dựng thành một tính cách hài hước – gây cười.

Việc sử dụng yếu tố tục và những hư cấu, bịa đặt mang tính hài hước của người nói trạng đã xây dựng nên một hình tượng trào tiếu, giễu nhại: Cố Bợ tốc váy dì Hai, chui vào váy dì Hai, bị nhốt luôn trong đó khiến Bợ bị một phen “hú vía” (Cố Bợ ghẹo dì Hai); Bợ ăn vụng thịt của vợ bị nhốt luôn tay trong nồi (Ăn vụng thịt của vợ); bị anh hàng thịt “lia dao trúng bầu d. khiến Bợ chạy bán sống bán chết” (Sợ cả anh hàng thịt nữa); Bợ bị lão bắt lươn cắm cái nỉa sắt nhọn hoắt xuyên qua đùi (Tao chỉ sợ lão bắt lươn); bị mụ phù thủy ăn quịt (Mụ phù thủy định ăn quỵt Cố Bợ); bị thu lửa, lừa gạt, bắt nhốt (Thục An Dương lấy lửa của Cố Bợ, Cố Bợ với Đức thánh Thái phó và Mai Hắc Đế). Thủ pháp “hạ thấp” hài hước còn thể hiện qua những hình thức giễu nhại như: thách đố (Tao cóc tin), sai khiến, khích bác chê bai (Chỉ biết ăn thôi à).

Cảm hứng thẫm mỹ toát lên từ những câu chuyện trạng về nhân vật hài hước này là cảm hứng về tiếng cười, nhưng ở đây không phải là tiếng cười phê phán thuần túy. Theo chúng tôi, sắc thái tiếng cười ở đây giống với tiếng cười trong chuyện trạng xứ Nghệ, “là tiếng cười khỏe khoắn… không phân biệt ngôi thứ đẳng cấp và không kiêng dè, tiếng cười san bằng mọi ngăn cách” (6). Có thể thấy, nhân vật Cố Bợ khi đi vào môi trường sinh hoạt văn hóa trào tiếu dân gian xứ Nghệ đã được “tân thời hóa” thành một hình ảnh mới mẻ. Yếu tố huyền thoại đã giảm sút rõ rệt. Việc gắn nhân vật vào môi trường trào tiếu dân gian, môi trường dân chủ, phi chính thống – “khu vực tiếp xúc tối đa với cái hiện tại ở thì không hoàn thành” đã làm cho hình tượng bị biến dạng, trở thành một hình tượng sống động như chính bản thân cuộc sống, “kết hợp trong nó cả những nét chính diện lẫn phản diện, cả những thấp kém lẫn cao thượng, cả nực cười lẫn trang nghiêm” (7).

Như vậy, từ một biểu tượng huyền thoại về ngọn lửa đến hình ảnh “ông trạng” của làng quê Nghệ Tĩnh, hiện tượng Cố Bợ đã thể hiện tính chất “đa diện” và sự biến dạng phức tạp của nó. Điều này có thể lý giải từ chính sức sống của hình tượng vượt qua thời gian và không gian, khả năng thu hút các hiện tượng đời sống ở các giai đoạn lịch sử khác nhau vào trong lòng nó. Mặt khác, sẽ rất lý thú nếu nhìn hiện tượng từ góc độ địa – văn hoá, lý giải tính độc đáo của nó từ sự tác động của môi trường tự nhiên, lịch sử, văn hoá xứ Nghệ mà chúng tôi hy vọng sẽ có dịp trình bày cụ thể và sâu sắc hơn trong một bài viết khác.
Cố Bợ vừa là một hiện tượng văn học dân gian, vừa là một hiện tượng văn hoá dân gian độc đáo mang đậm tính địa phương. Hình tượng Cố Bợ chính là sự kết tinh tính cách người Nghệ, sự biểu hiện sinh động những nét đặc trưng trong bản sắc văn hoá xứ Nghệ. Mặt khác, qua hiện tượng cụ thể này, quan hệ giữa văn hoá, tín ngưỡng, phong tục với tác phẩm văn học dân gian thêm một lần nữa được minh định.

Chú thích
(1). M.O.Cosven. Sơ yếu lịch sử văn hoá nguyên thuỷ. Lại Cao Nguyện dịch. Nxb Văn sử địa. H.1958.Tr.265.
(2). Võ Văn Trực. Truyền thuyết về núi Hai Vai. Nxb Văn hóa. H.1990.Tr.13.
(3). Nguyễn Đổng Chi (cb). Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh. Nxb Nghệ An. Vinh,1995. Tr.223.
(4). Võ Văn Trực. Cố Bợ. Nxb Nghệ Tĩnh. Vinh,1988.Tr.30.
(5). Nguyễn Đổng Chi (cb). Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh. Tlđd.Tr.223.
(6). Trần Hữu Thung. Chuyện trạng xứ Nghệ. Nxb Nghệ An. Vinh, 2002. Tr.18
(7). M.M.Bakhtin. Lí luận và thi pháp tiểu thuyết. Nxb Hội nhà văn. H.2003.Tr.34.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

ĐBH

free counters

%d bloggers like this: